Cập nhật: 12:45 GMT + 7, Thứ năm ngày 23/05/2013
Thông tin tham khảo
Giải pháp ưu tiên cho vấn đề khai thác tài nguyên vị thế Biển Đông
(09/08/2012)

Sau nhiều năm nghiên cứu và đánh giá các lợi ích mà vị thế  Biển Đông mang lại cho Việt Nam, các nhà khoa học thuộc Viện KH-CN Việt Nam đã có nhiều đề xuất đáng lưu ý, góp phần phát triển nền kinh tế ở một đất nước có ¾ diện tích là biển. Ở đây, vị thế của Biển Đông, có thể được hiểu một cách đơn giản là “chỗ đứng” của Biển Đông trên bình đồ Châu Á và thế giới về các mặt tự nhiên, kinh tế-xã hội, cũng như chính trị-quân sự.

Những lợi thế về vị trí địa lý

Biển Đông hiện tại và tương lai có ý nghĩa sống còn đối với cư dân các quốc gia trong khu vực.  Không những thế, Biển Đông còn quan trọng cho cả nhiều nước khác, trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ... Người ta đã nói nhiều về con đường hàng hải huyết mạch qua Biển Đông, trong đó nhấn mạnh đến sự kiện hàng năm trên một nửa trọng tải tàu hàng hóa của thế giới qua vùng biển này. Đường qua Biển Đông cung cấp hơn 80% dầu thô cho Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan.   Ngoài ra đối với Nhật Bản 45% khối lượng hàng hóa xuất khẩu là qua Biển Đông; trong khi đối với Trung Quốc qua Biển Đông có 29/39 tuyến đường hàng hải, 60% hàng hóa xuất nhập khẩu, và 70% dầu mỏ nhập khẩu.

Qua Biển Đông có tới 5/10 tuyến hàng hải lớn nhất của thế giới, gắn với tất cả các vùng biển khác trên thế giới. Hàng ngày có đến 250-300 tàu qua lại, và hàng năm hơn một nửa số tàu chở dầu siêu cấp của thế giới qua vùng biển này. Như vậy, có thể nói rằng Biển Đông là một trong các trung tâm quan trọng nhất của thế giới về mặt giao thông vận tải biển và gắn với nền kinh tế không những của các nước Đông Nam Á, mà cả Đông Á, Nam Á, châu Âu, Úc, và Châu Mỹ.

Khai thác tài nguyên: Hợp tác, tránh xung đột

Trải qua nhiều thế kỷ chiến tranh, đa số cư dân Biển Đông đều nhận thức sâu sắc rằng chỉ có hòa bình mới đem lại sự thịnh vượng và khai thác tốt nhất những tài nguyên mà Biển Đông mang lại. Thiện chí hòa bình, hợp tác cùng phát triển của nhiều nước trong khu vực đã được thể hiện rõ, trong đó có Việt Nam, song vì “lợi quốc gia” mà một số nước đang làm cho tình hình Biển Đông rất căng thẳng, có thể xảy ra đụng độ bất cứ lúc nào, đồng thời với việc chạy đua quân sự, trong đó có trang bị vũ khí mới, là điều chỉ thích hợp và thậm chí còn có lợi cho các nước có tiềm lực kinh tế mạnh như đã nêu ở trên. Đây là một thách thức rất lớn đối với nhân dân khu vực Biển Đông, đòi hỏi một cách ứng xử tỉnh táo, xây dựng và hữu nghị, theo đúng luật pháp quốc tế và các giá trị văn hóa truyền thống của khu vực.

Nhân dân các nước khu vực Biển Đông với nguyện vọng hợp tác, tránh đối đầu cần

luôn luôn cảnh giác trước mọi ý đồ chia rẽ dựa vào sự khác biệt về vị trí địa lý, về dân tộc, tôn giáo, hoặc chính quyền lợi quốc gia.

Việt Nam là một quốc gia biển, có truyền thống quản lý và khai thác các vùng biển

thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đời, đó là vùng lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam. Việt Nam yêu chuộng hoà bình, chủ trương giải quyết mọi tranh chấp trên Biển Đông thông qua đàm phán trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, nhưng kiên quyết bảo vệ đến cùng chủ quyền quốc gia thiêng liêng về biển đảo do cha ông để lại.

Cùng lúc tiến hành nghiên cứu và khai thác

Các Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược phát triển kinh tế biển, cũng như các Quyết định của Chính phủ về Quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội các vùng biển, ven biển và hải đảo đã chỉ rõ các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể của các ngành, các cấp và các địa phương, cũng như các tập thể và mỗi người dân phải làm gì để biến  nước ta đến năm 2020 thành một quốc gia mạnh về biển. Một trong các nhiệm vụ quan trọng của quá trình đó là công tác nghiên cứu khoa học về Biển Đông. Chính vì vậy, thời gian tới rất cần đẩy nhanh tốc độ nghiên cứu khoa học  song song với việc tiến hành khai thác tài nguyên vị thế nhằm khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi trên hai quần đảo của Việt Nam.

Trước mắt cần sử dụng có hiệu quả tài nguyên vị thế của hệ thống đảo ven bờ, cũng như hệ thống đảo trong quần đảo Trường Sa (Hoàng Sa còn đang bị chiếm đóng), về cả vị thế tự nhiên, địa-kinh tế và địa-chính trị. Đặc biệt nghiên cứu và triển khai việc sử dụng các đảo cho phát triển du dịch sinh thái, cho nhiệm vụ cảnh báo thiên tai, làm dịch vụ và hậu cần cho các hoạt động trên biển. Cần tổ chức  các cuộc đánh bắt hải sản quanh khu vực các đảo đã tuyên bố chủ quyền của Việt Nam. Qua đó, phát huy vai trò là những vị trí tiền tiêu và tiền tiêu - biên giới trên biển của các hệ thống đảo, xây dựng các đảo thành các vị trí phòng thủ vững chắc không thể bị đánh bại, đặc biệt các đảo nằm bên các tuyến đường giao thông quan trọng trong nước và quốc tế.

Riêng đối với quần đảo Trường Sa, cần tổ chức nghiên cứu chi tiết các đầm nước nông, còn gọi là các vụng biển, nằm giữa các atol (rạn san hô vòng) về các điều kiện địa chất- địa mạo, hải văn, và các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật; đặc biệt cần đo đạc chính xác bề mặt địa hình, xác định các tuyến luồng tàu ra - vào, phục vụ cho quân sự và ngư nghiệp (các đầm này cũng có thể là các nơi tránh gió bão). Đối với tất cả các thềm san hô bao quanh các đảo và đá ngầm đến độ sâu 30m (hoặc đến 200m, tùy từng nhóm đảo), nghiên cứu chi tiết bề mặt địa hình, thiết lập các luồng tàu cập đảo với các phương vị thích hợp cho từng mùa gió cũng như điều kiện cụ thể của từng đảo, đá.

Cũng ở Trường Sa, tổ chức điều tra cơ bản và nghiên cứu các chuyên đề đồng bộ để có thể thành lập và công bố một Khu bảo tồn biển quốc gia. Trong đó đặc biệt quan tâm xác lập các di sản quý hiếm về địa chất - địa mạo, cũng như các giá trị của các kỳ quan sinh thái, cùng giá trị mỹ học của các cảnh quan độc đáo dưới nước của các rạn san hô vòng vùng nhiệt đới. Đồng thời xác lập một tuyến du lịch sinh thái đảo biển, bảo đảm an toàn, vào các thời điểm thích hợp trong năm, để giới thiệu các giá trị và các kỳ quan đó cho nhân dân, nhất là giới trẻ.

Đặc biệt, cần quan tâm tới nhiệm vụ hết sức quan trọng là đặt tên Việt thống nhất và công bố cho tất cả các đối tượng địa lý trong vùng biển Việt Nam chưa có tên, như các dãy núi, khối núi, các cao nguyên, các hẻm vực, các lòng chảo, các vụng biển, bãi ngầm, các atol...Rà  soát và công bố chính thức toàn bộ tên các đảo, đá, bãi...của quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và lận cận trên các phương tiện truyền thông trong nước và quốc tế.

Anh Thư

Theo monre.gov.vn

Đại Nam Nhất Thống toàn đồ
Bản đồ Việt Nam thời Nguyễn vẽ khoảng năm 1838, đã vẽ "Hoàng Sa", "Vạn lý Trường Sa" thuộc lãnh thổ Việt Nam, phía ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam.
Các quy định pháp lý về xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa
Bản đồ “đường lưỡi bò” được Trung Quốc cho lưu hành ở Liên hợp quốc tháng 5/2009, nhưng Trung Quốc không hề có một lời giải...
Giấy thông hành biên giới do Công an tỉnh cấp để qua lại cửa khẩu chính, cửa khẩu quốc tế công tác và thăm viếng hữu...
Kháng nghị hàng hải là văn bản do thuyền trưởng của tàu biển lập ra để công bố hoàn ảnh của tàu và những biện pháp...
Bài hát về biên giới, biển đảo
Tên bài hát: Bạch Long Vĩ đảo quê hương
Nhạc và lời: Huy Du