Cập nhật: 03:49 GMT + 7, Thứ năm ngày 20/06/2013
Luật pháp quốc tế
Giới thiệu về Cơ quan Quyền lực quốc tế về Đáy đại dương
(11/07/2011)

Cùng với Tòa án quốc tế về Luật biển và Ủy ban Ranh giới thềm lục địa, Cơ quan Quyền lực quốc tế về Đáy đại dương (gọi tắt là Cơ quan Quyền lực) là tổ chức quan trọng được thành lập theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển  năm 1982 (Công ước Luật biển 1982). Cơ quan Quyền lực này được lập ra nhằm thực hiện việc tổ chức và quản lý các hoạt động sẽ được tiến hành trong Vùng và đối với tài nguyên của Vùng trong khuôn khổ của chế định Di sản chung của loài người.

Cơ quan Quyền lực có chức năng kiểm soát các hoạt động tiến hành trong Vùng, đặc biệt là nhằm quản lý các tài nguyên của Vùng theo đúng các quy định của Công ước luậtbi 1982. Cơ quan này có quyền định ra các quy tắc, quy định và thủ tục thích hợp cho việc sử dụng Vùng vào mục đích hòa bình, ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển; bảo vệ sự sống của con người, bảo vệ và bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên của Vùng, phòng ngừa những thiệt hại đối với hệ thống động vật và hệ thực vật. Những cơ quan chính của Cơ quan quyền lực bao gồm: Đại hội đồng, Hội đồng, Ban Thư ký và để triển khai chức năng khai thác Vùng của mình theo Công ước Luật biển 1982, Cơ quan Quyền lực thành lập Xí nghiệp. Ngoài ra, Cơ quan Quyền lực còn có quyền thành lập các trung tâm, cơ quan chỉ đạo khu vực, hay các cơ quan phụ trợ cần thiết cho việc thi hành chức năng của mình.

Cơ quan Quyền lực có trụ sở tại Kingston, Jamaica, được thành lập từ năm 1994 ngay khi Công ước Luật biển 1982 có hiệu lực. Tuy nhiên, Cơ quan chỉ trở thành tổ chức hoạt động độc lập từ năm 1996. Tất cả các quốc qia thành viên của Công ước Luật biển 1982 là những thành viên ipso facto (đương nhiên) của Cơ quan Quyền lực, được thành lập trên cơ sở bình đẳng về chủ quyền của tất cả các thành viên. Các quan sát viên ở Hội nghị lần thứ 3 của Liên Hợp quốc về Luật biển đã ký vào định ước cuối cùng và không nằm trong phạm vi Điều 305, khoản 1, điểm c, d, e hay f có quyền tham dự vào các công việc của Cơ quan Quyền lực với tư cách là quan sát viên theo đúng các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ Quan quyền lực[1].

1. Cơ cấu tổ chức của Cơ quan Quyền lực

Cơ quan Quyền lực thực thi các quyền hạn và nghĩa vụ được giao phó thông qua các cơ quan của mình.

a. Đại hội đồng:

Đại hội đồng là cơ quan tối cao của Cơ quan Quyền lực, có quyền quyết định chính sách chung về mọi vấn đề thuộc thẩm quyền của Cơ quan Quyền lực với sự phối hợp của Hội đồng[2]. Mỗi thành viên của Cơ quan Quyền lực có một đại diện ở Đại hội đồng và có một phiếu bầu  trong mọi quyết định của Đại hội đồng. Đại hội đồng họp thường kỳ hàng năm, và có thể họp bất thường khi cần thiết. Các cuộc họp của Đại hội đồng được tiến hành tại trụ sở của Cơ quan Quyền lực trừ khi Đại hội đồng có quyết định khác. Theo quy định của Điều 159 của Công ước Luật biển 1982, các quyết định về thủ tục được Đại hội đồng thông qua bằng hình thức đa số phiếu; các quyết định về vấn đề nội dung phải được 2/3 thành viên có mặt và bỏ phiếu thông qua. Tuy nhiên, Hiệp định liên quan đến việc thực hiện Phần XI Công ước Luật biển 1982 (gọi tắt là Hiệp định 1994) đã bổ sung quy định đòi hỏi việc ra quyết định trong các cơ quan của Cơ quan Quyền lực phải được thực hiện bằng đồng thuận và coi đây là nguyên tắc chung; chỉ khi mọi cố gắng để đạt đồng thuận mà không thành thì mới áp dụng thủ tục bỏ phiếu được quy định tại Điều 159.

Khi có ít nhất ¼ thành viên Đại hội đồng gửi văn bản lên Chủ tịch Đại hội đồng yêu cầu lấy ý kiến tư vấn xem một đề nghị đưa ra Đại hội đồng về một vấn đề nào đó có phù hợp với Công ước hay không, Đại hội đồng sẽ yêu cầu Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển của Toà án Quốc tế về Luật biển cho ý kiến tư vấn; biểu quyết về vấn đề này chỉ có thể tiến hành sau khi có ý kiến tư vấn.

Cùng với quyền quyết định chính sách chung về mọi vấn đề thuộc thẩm quyền của Cơ quan Quyền lực, Đại hội đồng còn có quyền[3]:

- Bầu Uỷ viên của Hội đồng;

- Bầu Tổng thư ký Cơ quan quyền lực;

- Bầu Uỷ viên Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc Xí nghiệp;

- Thành lập cơ quan phụ trợ, nếu cần thiết, để giúp hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình;

- Quy định phần đóng góp của các thành viên vào ngân sách hành chính của Cơ quan Quyền lực;

- Xem xét, phê chuẩn (theo kiến nghị của Hội đồng) các quy tắc, quy định, thủ tục liên quan đến việc phân chia công bằng và lợi ích thu được từ các hoạt động trong Vùng, cũng như liên quan đến việc thăm dò, khai thác trong Vùng, việc quản lý tài chính và hành chính nội bộ của Cơ quan Quyền lực;

- Cho phép tiến hành nghiên cứu, soạn thảo kiến nghị nhằm đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong Vùng, cũng như khuyến khích phát triển tiến bộ luật pháp quốc tế;

- Xem xét các vấn đề nảy sinh từ cac hoạt động trong Vùng, đặc biệt đối với các nước đang phát triển;

- Thảo luận và quyết định bất kỳ vấn đề gì thuộc thẩm quyền của Cơ quan quyền lực....

b. Hội đồng:

Điều 162, khoản 1 Công ước Luật biển 1982 định nghĩa “Hội đồng là cơ quan chấp hành của Cơ quan Quyền lực, có quyền căn cứ Công ước và chính sách chung do Đại hội đồng xác đinh, định ra những chính sách riêng mà Cơ quan Quyền lực phải theo đối với mọi vấn đề hay mọi việc thuộc thẩm quyền của mình”. Ngoài ra, Hội đồng còn có các quyền[4]:

- Giám sát và tổ chức điều phối việc áp dụng các quy định về các vấn đề thuộc thẩm quyền của Cơ quan Quyền lực; lưu ý Đại hội đồng về những trường hợp không tuân thủ;

- Giới thiệu ứng cử viên Tổng thư ký, uỷ viên Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc Xí nghiệp;

- Thông qua quy chế nội bộ, có thể lập cơ quan phụ trợ nếu cần thiết;

- Thay mặt Đại hội đồng ký kết thoả thuận với Liên Hợp quốc và được Đại hội đồng chuẩn y;

- Xem xét báo cáo của xí nghiệp, trình Đại hội đồng kiến nghị;

- Chỉ đạo Xí nghiệp;

- Chuẩn y các kế hoạch làm việc của các nhà đầu tư ban đầu, cũng như của xí nghiệp;

- Kiến nghị lên Đại hội đồng về biện pháp bảo vệ các nước đang phát triển, lập chế độ bù trừ hay biện pháp trợ giúp trong trường hợp quốc gia thành viên bị ảnh hưởng tiêu cực bới việc khai thác khoáng sản từ Vùng, về quy định và thủ tục phân chia công bằng lợi ích, đóng góp, quản lý hành chính vàtài chính của Cơ quan Quyền lực;

- Thanh toán các khoản nợ của Cơ quan Quyền lực;

- Lựa chọn người yêu cầu cấp giấy phép;

- Nhân danh Cơ quan Quyền lực, giao cho Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đấy biển xét xử các trường hợp vi phạm và thông báo cho Đại hội đồng về quyết định của Viện này kèm theo kiến nghị về biện pháp cần thi hành;

- Trong trường hợp khẩn cấp, ra lệnh đình chỉ hoặc thay đổi các hoạt động trong Vùng để tranh thiệt hại nghiêm trọng;

- Bố trí bộ máy thích hợp để giám sát và điều hành đoàn thanh tra các hoạt động trong Vùng.

Hội đồng gồm 36 thành viên của Cơ quan Quyền lực do Đại hội đồng bầu ra. Điều 161, Công ước Luật biển 1982 phân bổ cụ thể 36 ghế của Hội đồng và sau đó được Hiệp định 1994 bổ sung như sau:

- Nhóm A: 4 đại diện của các quốc gia thành viên trong 5 năm gần đây nhất đã tiêu thụ hoặc nhập khẩu các loại hàng hoá sản xuất từ các loại khoáng sản sẽ được khai thác từ Vùng ở mức hơn 2% tổng giá trị tiêu thụ hoặc nhập khẩu của thế giới, trong đó có một quốc gia thuộc khu vực Đông Âu có nền kinh tế lớn nhất khu vực đó xét về tổng sản phẩm quốc nội và mọi quốc gia có nền kinh tế lớn nhất vào ngày Công ước có hiệu lực, nếu các quốc gia này muốn được đại diện nhóm này.

- Nhóm B: 4 đại diện của 8 quốc gia thành viên đã đầu tư nhiều nhất, trực tiếp hoặc qua công dân của họ, cho việc chuẩn bị và tiến hành các hoạt động trong Vùng.

- Nhóm C: 4 đại diện của các quốc gia thành viên chuyên xuất khẩu chủ yếu các loại khoáng sản sẽ được khai thác từ Vùng, trong đó ít nhất có 2 quốc gia đang phát triển mà nền kinh tế phụ thuộc nặng vào việc xuất khẩu các khoáng sản này.

- Nhóm D: 6 đại diện các quốc gia thành viên đang phát triển và đại diện cho những lợi ích đặc biệt (bao gồm dân số đông, không có biển, có hoàn cảnh địa lý bất lợi, quốc đảo, nhập khẩu chủ yếu các khoáng sản sẽ được khai thác từ Vùng, có tiềm năng sản xuất các khoáng sản đó và là các nước kém phát triển nhất).

- Nhóm E: 18 uỷ viên khác được bầu  theo sự phân bổ công bằng về địa lý, với điều kiện mỗi khu vực địa lý (châu Phi, châu Mỹ  la tinh, châu Á, Đông Âu, Tây Âu và các quốc gia khác) có ít nhất một đại diện.

Hội đồng họp theo yêu cầu hoạt động của Cơ quan Quyền lực. Mỗi uỷ viên Hội đồng có 1 phiếu[5]. Hiệp định 1994 bổ sung quy định phân chia các khối (đại diện cho các nhóm lợi ích khác nhau) trong bỏ phiếu ở Hội đồng, theo đó ba nhóm A, B và C tạo thành ba khối; các nước đang phát triển có mặt trong nhóm D và E tạo thành khối thứ tư. Các quyết định về thủ tục được thông qua bằng đa số thường; các quyết định về vấn đề nội dung phải được thông qua bằng đa số 2/3, ¾ hoặc bằng đồng thuận, tuỳ theo vấn đề[6]. Tuy nhiên, các nguyên tắc chung về đồng thuận trong việc thông qua các quyết định nói trên cũng áp dụng đối với Hội đồng.

Để hỗ trợ cho Hội đồng thực hiện các chức năng của mình, Công ước Luật biển 1982 quy định việc thành lập hai Uỷ ban giúp việc của Hội đồng là Uỷ ban Kế hoạch hoá kinh tế và Uỷ ban Pháp lý và kỹ thuật. Mỗi Uỷ ban này sẽ gồm 15 thành viên có nhiệm kỳ 5 năm do Hội đồng lựa chọn từ các ứng cử viên của các quốc gia thành viên trên cơ sở trình độ chuyên môn, có tính đến sự phân bổ công bằng về địa lý và việc đại diện cho các nhóm lợi ích đặc biệt. Tuy nhiên, Hội đồng cũng có thể quyết định mở rộng số lượng thành viên của 2 Uỷ ban này nếu thấy cần thiết nhưng phải tính đến yêu cầu về tiết kiệm và hiệu quả[7]. Trên thực tế, trong 2 lần bầu cử thành viên của Uỷ ban Pháp lý và Kỹ thuật, số lượng ứng cử viên do các quốc gia thành viên đề cử đều vượt quá 15 người và Hội đồng đã quyết định tăng số thành viên của Uỷ ban để có thể chọn tất cả các ứng cử viên[8].

- Ủy ban Kế hoạch hóa kinh tế có nhiệm vụ theo dõi, nghiên cứu các khía cạnh kinh tế của các hoạt động trong Vùng để đưa ra những kiến nghị về biện pháp điều chỉnh về kinh tế cần thiết. Các ủy viên của Ủy ban cần có trình độ nghiệp vụ cần thiết, nhất là về khai thác khoáng sản, quản lý tài nguyên khoáng sản, thương mại và kinh tế quốc tế; trong đó ít nhất phải có 2 công dân của các quốc gia đang phát triển mà nền kinh tế phụ thuộc nặng nề vào việc xuất khẩu các loại khoáng sản được khai thác từ Vùng.

- Ủy ban Pháp lý và kỹ thuật có nhiệm vụ trợ giúp Hội đồng soạn thảo các quy định về việc thi hành chức năng của Cơ quan Quyền lực, xem xét các kế hoạch làm việc chính thức liên quan đến các hoạt động trong Vùng và kiến nghị Hội đồng thông qua, giám sát tác động sinh thái, môi trường của các hoạt động đó, liên hệ với Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển trong trường hợp có vi phạm, kiến nghị về việc tổ chức thanh tra trong Vùng, tính toán sản lượng tối đa và thay mặt Cơ quan Quyền lực cấp giấy phép sản xuất sau khi Hội đồng đã có quyết định lựa chọn người được cấp phép.Theo quy định của Hiệp định 1994 (Khoản 4 Mục 1 Phụ lục), Ủy ban Pháp lý và kỹ thuật sẽ tạm thời đảm nhiệm các chức năng của Ủy ban Kế hoạch hóa tài chính cho đến khi Hội đồng có quyết định khác hoặc khi thông qua kế hoạch hoạt động đầu tiên cho việc khai thác.

Để nâng cao hiêu quả làm việc của Hội đồng liên quan đến việc thông qua các kế hoạch làm việc chính thức theo kiến nghị của Ủy ban pháp lý và kỹ thuật, Hiệp định 1994 bổ sung quy định, trường hợp Hội đồng quyết định không thông qua một kế hoạch làm việc chính thức, cần có một đa số 2/3 thành viên Hội đồng có mặt và bỏ phiếu, kể cả đa số các thành viên có mặt và bỏ phiếu trong mỗi khối của Hội đồng; nếu trong vòng 60 ngày kể từ khi Hội đồng nhận được kiến nghị của Ủy ban Pháp lý và kỹ thuật mà Hội đồng không đưa ra được quyết định, coi như Hội đồng đã thông qua kiến nghị của Ủy ban khi hết thời hạn 60 ngày đó.

Các ủy viên của Ủy ban Pháp lý và kỹ thuật phải trình độ nghiệp vụ về thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản, hải dương học, bảo vệ môi trường biển, hoặc về kinh tế, pháp lý liên quan đến khai thác đáy đại dương.

c. Ban Thư ký

Ban Thư ký gồm một Tổng Thư ký và một số nhân viên. Tổng Thư ký do Đại hội đồng bầu với nhiệm kỳ 4 năm, có thể được bầu lại. Tổng Thư ký là viên chức cao nhất của Cơ quan Quyền lực, thực hiện mọi chức trách hành chính mà Cơ quan Quyền lực giao cho.

Tổng Thư ký bổ nhiệm một số nhân viên đủ để thực hiện chức trách của Ban Thư ký, dựa trên năng lực, sự liêm khiết và cơ sở địa lý rộng rãi nhất có thể. Nhân viên phải có trình độ nghiệp vụ khoa học, kỹ thuật và các lĩnh vực khác mà Cơ quan Quyền lực yêu cầu.

Ban Thư ký mang tính chất quốc tế, thể hiện ở chỗ trong khi thi hành nhiệm vụ, Ban Thư ký không được xin chỉ thị của bất cứ chính phủ hay một nguồn nào ngoài Cơ quan Quyền lực. Các quốc gia thành viên cam kết, tôn trọng tính chất quốc tế này. Tổng Thư ký và các nhân viên của Ban Thư ký không được có những lợi lộc tài chính trong một hoạt động nào được tiến hành tỏng Vùng và có trách nhiệm giữ bí mật và bảo vệ các sở hữu công nghiệp, tài liệu của Cơ quan Quyền lực, ngay cả sau khi đã thôi việc.

d. Xí nghiệp

Xí nghiệp do Cơ quan Quyền lực thành lập ra để trực tiếp tiến hành các hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản, bảo vệ tài nguyên và môi trường trong Vùng, kể cả việc vận chuyển, chế biến và buôn bán các khoáng sản được khai thác trong Vùng.

Xí nghiệp hoạt động theo đúng quy định của Công ước Luật biển 1982, các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quan Quyền lực, cũng như chính sách do Đại hội đồng quyết định; Xí nghiệp tuân theo các chỉ thị của Hội đồng và chịu sự kiểm soát trực tiếp của Hội đồng. Tuy vậy, phương thức hoạt động của Xí nghiệp là tự quản, có nghĩa là Xí nghiệp không phải chịu trách nhiệm về hành động hay nghĩa vụ của Cơ quan Quyền lực cũng như Cơ quan Quyền lực không phải chịu trách nhiệm về hành động hay nghĩa vụ của Xí nghiệp Xí nghiệp có nguồn tài chính cần thiết và các kỹ thuật được chuyển giao theo quy định của Phần XI và Hiệp định 1994.

Xí nghiệp có một Hội đồng Quản trị gồm 15 ủy viên được Đại hội đồng bầu ra theo nguyên tắc phân bổ công bằng về địa lý, trên cơ sở nghiệp vụ tinh thông và những phẩm chất khác cần thiết để đảm bảo cho Xí nghiệp hoạt động thành công. Hội đồng Quản trị điều hành Xí nghiệp, chịu trách nhiệm trước Hội đồng Quản trị. Tổng Giám đốc và các nhân viên của Xí nghiệp cũng không được nhận chỉ thị từ bất cứ chính phủ hay một nguồn nào khác ngoài Xí nghiệp.

Xí nghiệp có các nguồn tài chính sau: các nguồn vốn do Cơ quan Quyền lực cấp[9]; những khoản đóng góp tự nguyện của các quốc gia thành viên nhằm tài trợ cho hoạt động của Xí nghiệp; các khoản Xí nghiệp vay; các khoản thu nhập từ các hoạt động của Xí nghiệp trong Vùng.

Xí nghiệp tiến hành các hoạt động trong Vùng thông qua các dự án được Hội đồng chuẩn y dưới hình thức một hợp đồng ý giữa Cơ quan Quyền lực và Xí nghiệp; các công việc khai khoáng đầu tiên của Xí nghiệp ở Vùng sẽ được thực hiện bằng hình thức liên doanh theo các nguyên tắc có lợi về thương mại. Xí nghiệp có quyền sở hữu tất cả các khoáng sản và sản phẩm chế biến mà Xí nghiệp sản xuất ra. Xí nghiệp bán các sản phẩm trên cơ sở không phân biệt đối xử và đảm bảo mức giá kinh doanh của sản phẩm. Xí nghiệp được hưởng ưu đãi miễn trừ trên lãnh thổ các quốc gia thành viên trong khi thực hiện chức năng của mình và thông qua các hiệp định hay thỏa thuận đặc biệt ký giữa Xí nghiệp và quốc gia hữu quan.

e. Ủy ban Tài Chính

Ủy ban này chưa được quy định cụ thể trong Công ước Luật biển 1982; nó chỉ được thành lập sau khi Hiệp định 1994 ra đời (theo quy định của Mục 9, Phụ lục của Hiệp định) nhằm trợ giúp Cơ quan Quyền lực thực hiện nguyên tắc chi phí hiệu quả trong các hoạt động của mình. Ủy ban gồm 15 thành viên là các chuyên gia có trình độ phù hợp về các vấn đề tài chính, do Đại hội đồng Cơ quan Quyền lực bầu từ các ứng cử viên do các quốc gia thành viên chỉ định. Mỗi khối bỏ phiếu trong Hội đồng sẽ có ít nhất một đại diện trong Ủy ban Tài chính. Các thành viên của Ủy ban này cũng có nghĩa vụ tương tự các nhân viên của Ban Thư ký.

Đại hội đồng và Hội đồng của Cơ quan Quyền lực phải tham khảo ý kiến của Ủy ban Tài chính khi quyết định các vấn đề sau: các quy tắc, quy định, thủ tục về tài chính của các cơ quan thuộc Cơ quan Quyền lực; mức đóng góp của các nước thành viên cho ngân sách hành chính của Cơ quan Quyền lực; dự trù ngân sách hàng năm; các nghĩa vụ tài chính của nước thành viên; quy tắc, quy định và thủ tục phân chia lợi nhuận thu được từ các hoạt động trong Vùng.

2. Tính chất và các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh hoạt động của Cơ quan Quyền lực

- Theo Điều 157 của Công ước Luật biển 1982 và đoạn 1 của Phụ lục đính kèm Hiệp định 1994, Cơ quan Quyền lực không phải là một thể chế siêu quốc gia, đứng trên các quốc gia. Đó là tổ chức được các quốc gia thành viên Công ước Luật biển 1982 lập ra, và thông qua nó, các quốc gia thành viên tổ chức và kiểm soát các hoạt động tiến hành trong Vùng, đặc biệt đối với tài nguyên ở đó. Quyền hạn và chức năng của Cơ quan Quyền lực là do các quốc gia thành viên giao cho và được ấn định rõ ràng, cụ thể.

- Cơ quan Quyền lực được thành lập trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa tất cả các quốc gia thành viên. Các thành viên của Cơ quan Quyền lực phải tuân thủ những nghĩa vụ mà Công ước quy định, cũng là nhằm đảm bảo quyền và lợi ích có được do tư cách thành viên của họ. Cơ quan Quyền lực phải đảm bảo không phân biệt đối xử trong khi thực thi các chức năng quyền hạn của mình. Tuy vậy, Cơ quan Quyền lực có thể có quan tâm đặc biệt đến các quốc gia đang phát triển, không có biển hoặc bất lợi về địa lý[10].

- Cơ quan Quyền lực là một pháp nhân quốc tế. Để có thể thực hiện các chức năng của mình, Cơ quan Quyền lực được hưởng trên lãnh thổ các quốc gia thành viên những quyền ưu đãi, miễn trừ cần thiết, như quyền miễn trừ tài phán, miễn trừ khám xét và mọi hình thức sai áp khác; tài sản của Cơ quan Quyền lực được miễn mọi sự kiểm soát, hạn chế, điều chỉnh; hồ sơ và thông tin chính thức của Cơ quan Quyền lực được hưởng quyền miễn trừ tài phán đối với các hành động thực thi công vụ; Cơ quan Quyền lực và tài sản, thu nhập của nó được miễn mọi thứ thuế trực thu, cũng như thuế hải quan khi xuất nhập cảnh; tiền lương, tiền thù lao của nhân viên Cơ quan Quyền lực được miễn mọi thứ thuế trực thu hay gián thu.

- Một nguyên tắc quan trọng chỉ đạo hoạt động của Cơ quan Quyền lực là chi phí hiệu quả. Đoạn 2 Mục 1 của Phụ lục đính kèm Hiệp định 1994 quy định: “Nhằm mục đích giảm chi phí của các quốc gia thành viên, tất cả các cơ quan phụ trợ được thành lập theo Công ước và Hiệp định đều phải tuân thủ nguyên tắc chi phí hiệu quả. Nguyên tắc này cũng áp dụng với việc xác định nhịp độ, thời gian và lịch trình của các cuộc họp”.

3. Chi phí và ngân sách của Cơ quan quyền lực

Theo quy định của Công ước Luật biển 1982, để trang trải cho các hoạt động của mình, Cơ quan Quyền lực có các nguồn thu sau:

- Các khoản đóng góp tài chính của các quốc gia thành viên cho ngân sách hành chính của Cơ quan quyền lực[11] cho đến khi Cơ quan quyền lực có các khoản thu khác để trang trải cho chi phí hành chính, mức đóng góp của mỗi quốc gia thành viên cho ngân sách từng năm của Cơ quan quyền lực sẽ được xác định tương ứng với mức đóng góp của quốc gia đó cho Liên Hợp quốc trong năm trước đó;

- Thu nhập có được từ các hoạt động tiến hành trong Vùng;

- Các khoản tiền do Xí nghiệp nộp[12];

- Vốn đi vay[13];

- Các khoản đóng góp tự nguyện của các quốc gia thành viên hoặc từ các nguồn khác;

- Các khoản nguồn tài chính do Ủy ban Kế hoạch hóa tài chính xác định để nộp vào Quỹ hỗ trợ kinh tế (để hỗ trợ các nước bị ảnh hưởng bất lợi từ hoạt động khai thác khoáng sản trong Vùng)[14].

Hiệp định1994 có bổ sung thêm một số điểm liên quan đến nguồn tài chính cho các hoạt động hành chính của cơ quan quyền lực đó là:

- Cho đến hết năm tiếp theo của năm mà Hiệp định 1994 có hiệu lực (tức là hết ngày 31/12/1997), các chi phí hành chính của Cơ quan Quyền lực sẽ được trả bằng ngân sách của Liên Hợp quốc;

- Cơ quan quyền lực không được vay tiền (sử dụng quyền vay vốn) để trang trải cho các chi phí hành chính của mình. Như vậy, từ năm 1998, chi phí hành chính của Cơ quan quyền lực chỉ được sử dụng từ khoản đóng góp của các quốc gia thành viên.

Duyên Hồng.


[1] Điều 156, Công ước Luật biển 1982.

[2] Điều 160, Công ước Luật biển 1982 và đoạn 1 mục 3 Phụ lục Hiệp định liên quan đến việc thực hiện Phần XI Công ước 1994.

[3] Điều 160, khoản 2, Sđd.

[4] Điều 162, khoản 2, Sđd.

[5] Điều 161, khoản 8, Sđd.

[6] Điều 161, khoản 8, Sđd.

[7] Điều 163, Sđd

[8] Tại cuộc bầu cử đầu tiên của Uỷ ban Pháp lý và kỹ thuật năm 1996, Hội đồng đã chọn cả 22 thành viên được đề cử; tại cuộc bầu cử lần thứ 2 cho nhiệm kỳ 2002 – 2006, Hội đồng đã chọn 24 thành viên được đề cử.

[9]  Điều 173, khoản 2, điểm b, Sđd

[10] Điều 152, Sđd

[11] Điều 160, khoản 2, điểm (e), Sđd

[12] Điều 10, Phụ lục IV, Sđd.

[13] Điều 174, Sđd.

[14] Điều 151, khoản 10, Sđd.

 

Đại Nam Nhất Thống toàn đồ
Bản đồ Việt Nam thời Nguyễn vẽ khoảng năm 1838, đã vẽ "Hoàng Sa", "Vạn lý Trường Sa" thuộc lãnh thổ Việt Nam, phía ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam.
Quá trình xây dựng và các quy định về giải quyết tranh chấp
3. Đội Hoàng Sa được tổ chức theo hình thức bán quân sự, hoạt động dưới danh nghĩa Nhà nước với chức năng chủ yếu là...
Kiểm ngư là lực lượng dân sự, chức năng chủ yếu là kiểm tra xử lý vi phạm, thanh tra chuyên ngành thủy sản. Tuy nhiên,...
1. Yêu cầu đối với Bộ, ngành
Bài hát về biên giới, biển đảo
Tên bài hát: Bạch Long Vĩ đảo quê hương
Nhạc và lời: Huy Du