Cập nhật: 13:05 GMT + 7, Thứ bảy ngày 25/05/2013
Thông tin tham khảo
Hệ thống thông tin địa lý (GIS) - Một công cụ cho các cuộc đàm phán lãnh thổ
(02/03/2011)

TS. WILLIAM B. WOOD*


*GIỚI THIỆU: Bản đồ thế giới là một bức tranh – kết quả quan trọng nhất của các cuộc chiến tranh. Phần lớn mọi người nghĩ rằng bản đồ là một thứ cố định. Ngược lại, nó cũng luôn luôn thay đổi như loài người vậy (Isaiah Bowman 1922).

 

Chủ quyền quốc gia được xác định như quyền của một chính phủ trên toàn bộ lãnh thổ và cư dân mà họ có quyền kiểm soát được quốc tế công nhận. Trong phạm vi hệ thống liên hợp quốc (UN), quyền kiểm soát lãnh thổ được công nhận rõ ràng nhất trong việc tạo ra và duy trì biên các giới quốc tế. Các biên giới quốc tế, tuy vậy có nhiều chức năng – kinh tế, văn hóa và chính trị - có tác động trực tiếp tới các quan hệ quốc tế. Bài viết này xem xét việc các dữ liệu liên quan đến các chức năng biên giới có thể được thu thập, tổ chức phân tích và trình bày như thế nào trong phạm vi hệ thống thông tin địa lí (GSI) như một phần của cuộc đàm phán lãnh thổ. Vì bản đồ chính trị thế giới tiếp tục thay đổi, các công cụ GSI có thể được sử dụng để việc đưa ra các quyết định rõ ràng hơn, phân tích các lựa chọn chi tiết hơn và thể hiện các kết quả có sức thuyết phục hơn – đó là các yếu tố có thể tác động đến sự ổn định trong tương lai của những người sống tại khu vực biên giới.

   Các biên giới, vùng biên giới và sự ổn định của khu vực

Các biên giới quốc tế là “những đường trên bản đồ” phân biệt chủ quyền lãnh thổ đã được xác định của quốc gia, nhưng mỗi mức đường cũng biều hiện như một bức ảnh chụp nhanh một mô hình không gian được áp đặt, ẩn cũng như hiện. (Prescott, 1987). Một đường biên giới quốc tế nằm trong phạm vi một vùng biên giới (hay vùng đất biên giới) thường được biểu hiện như một vùng chuyển tiếp hay vùng biên giới. Hệ thống các biên giới toàn cầu như sự phân chia chính trị ban đầu bề mặt trái đất tương đối gần đây nhất (trong vòng 150 năm qua đối với phần lớn thế giới). Sự duy trì của hệ thống này – không tính đến sự áp đặt chưa hoàn thiện đối với nó như thế nào (đặc biệt tại các thuộc địa ở châu Phi) và nó trở thành “khó giải quyết” như thế nào đối với sự chuyển giao kinh tế “toàn cầu hóa” – đã có được sự công nhận rộng rãi như biện pháp nền tảng của việc giữ gìn hòa bình và ổn định của khu vực (Thomas, 1999). Số lượng các quốc gia có chủ quyền tăng lên nhanh chóng (từ 70 trước chiến tranh thế giới lần thứ hai đến hơn 190 chỉ 60 năm sau đó), với sự tăng lên tương ứng các biên giới trên đất liền – bây giờ là khoảng 310. Đối với mỗi biên giới, ít nhất có hai “các diễn giải ý nghĩa của chúng – mỗi cách theo một kiểu khác nhau” (Paasi, 1998: 14).

Kể từ khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai, số các biên giới biển tăng lên một cách đáng kể. Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) đã thiết lập một cơ chế đối với việc tạo ra một loại hình khác nhau của các vùng biển – lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) được quốc tế công nhận và thềm lục địa. Trong khi các vùng biển này gần đây bao gồm một vùng bề mặt trái đất lớn hơn các vùng biên giới đất liền và các cuộc tranh chấp các nguồn tài nguyên đại dương và tiềm năng có thể sánh được với các cuộc xung đột tài nguyên trên đất liền, mà loại thứ hai về phương diện lịch sử có vẻ như là nguyên do trong các cuộc xô xát dữ dội  của cuộc nội chiến.

Tiếp theo sự tan rã của Liên Xô cũ năm 1989, các biên giới quốc tế - cho đến tận sau đó là chủ đề tiềm ẩn đối với hầu hết các nhà khoa học chính trị và xã hội – thu lại, phục hồi lợi ích do sự thay đổi biên giới tại Trung và Đông Âu được xem như yếu tố chủ đạo trong sự bất ổn định địa chính trị dọc theo các vùng biên giới quốc gia (Aderson và Bort, 1998). Tuy vậy, về phương diện lịch sử các biên giới hiện đại, đặc biệt ở châu Âu (1815, 1918-21 và 1945) đã luôn được vẽ lại nhanh chóng và thường xuyên (Waterman, 1994). Với quan điểm “phê phán” địa chính trị, các biên giới chỉ hơn sự phân chia “chính trị - vật chất”, chúng trở nên quyện chặt vào nhau trong các cuộc tranh luận rộng hơn lí thuyết “về lãnh thổ hóa”, “dân tộc hóa” và “toàn cầu hóa”. Trong khi một quốc gia như một thực thể chính trị xuất hiện để tồn tại lâu dài, nếu không phải là sự phát triển thịnh vượng, thì các biên giới vẫn tiếp tục khẳng định chúng gánh vác các chức năng kinh tế, văn hóa “đa chiều” mới và các chức phận biểu trưng (Paasi, 1998).

Các biên giới chạy qua các vùng đất biên giới

Không như các biên giới thường được miêu tả chính xác, vùng biên giới thường được nhận biết một cách không rõ ràng. Như Aderson (1990) đã chú thích, các vùng biên giới là các vùng trong đó quốc gia thực thi chính sách của họ nhằm chứng tỏ việc kiểm soát độc quyền thực sự de facto và khoanh vùng phạm vi lãnh thổ bản sắc dân tộc của họ. Trong khi mỗi một nguyên tắc khoa học xã hội có một định nghĩa riêng của chúng về “vùng biên giới” phần lớn đều công nhận rằng có cả hai yếu tố không gian và tâm lí tác động tới chúng. Vùng biên giới động nằm ở chính tâm của nhiều mối quan hệ và xung đột quốc tế - và tất nhiên phạm vị không gian của các vùng biên giới này vẫn còn mập mờ. Những phân tích tổng thể của biên giới – hoặc dành cho mụch đích có tính học thuật hoặc cho mục đích trọng tài – đều yêu cầu sự hợp nhất có ý nghĩa của chúng trong phạm vi tập hợp của các tác động qua lại  rộng diễn ra trong khuôn khổ và ngang qua các vùng biên giới quốc gia.

Thậm chí với các điểm nóng biên giới tại Liên Xô (cụ thể tại Capcado), các nhà ngoại giao ít chú ý đến các tranh chấp biên giới, coi chúng như sự bất ổn định khu vực, mà thay vào đó lại tập trung và xung đột sắc tộc, coi chúng như mối đe dọa lớn hơn với hòa bình và an ninh quốc tế (Ủy ban Carnegie về ngăn chặn Xung đột nghiêm trọng). Yếu tố nhân quả chủ đạo trong các cuộc chiến gần đây không phải là do sự căng thẳng sắc tộc hay các đường biên giới thực dân được vạch ra một cách tùy tiện, mà là sự tác động qua lại bất lợi giữa những nhóm dân tộc thiểu số bị ngược đãi và các biên giới áp đặt chia cắt họ; các vấn đề này được kết hợp bởi các chính thể hà khắc luôn chối bỏ các quyền cơ bản của con người của các dân tộc thiểu số và việc bảo vệ quyền lập hiến. Chủ nghĩa dân tộc lãnh thổ - sự nỗ lực của các nhà dân tộc chủ nghĩa từ Ban-căng tới Trung Á, cắt rời tổ quốc “thuần túy” – đã dẫn đến những tội ác nghiêm trọng chống lại nhân loại, bao gồm cả việc “tẩy rửa dân tộc” và trong một số trường hợp cực đoan có tính diệt chủng (Wood, sắp xuất bản).

Dù là động hay tĩnh, các biên giới có ảnh hưởng rất lớn tới những mối quan hệ song phương, các phong trào chủ trương đòi lại lãnh thổ, các dòng người di cư (hợp pháp và bất hợp pháp), hoạt động kinh tế và thậm chí việc bảo vệ môi trường. Khi có hiệu lực, một biên giới quốc tế có thể có chức năng như một bộ lọc để điểu chỉnh những mạng lưới kinh tế, văn hóa, chính trị và môi trường. Một biên giới có thể được đóng hay được quản lí để cản trở sự truyền bá của người, vật và tư tưởng bằng cách đó làm giảm thành tựu của các mục tiêu phát triển. Các nước nghèo, không có biển đặc biệt là ở châu Phi dễ bị tổn hại với việc đóng cửa biên giới như vậy (Reitsma, 1983). Ngược lại, một biên giới mở có thể tạo điều kiện cho các tác động qua lại xuyên biên giới. Sự thực thường ở giữa hai cực “mở” và “đóng”. Riêng châu Âu đang tiến hành một cuộc thử nghiệm châu lục rõ nét trong việc nới lỏng việc kiểm soát biên giới. Việc khai trương cây cầu “Oresund Fixed Link” giữa Đan Mạch và Thụy Điển vào ngày 1/7/2000 tượng trưng cho vài vấn đề tranh luận như đã được nhà sử học Anders Linde-Laursen của trường đại học tổng hợp Lund mô tả:

Cây cầu là biểu tượng cho quan điểm mới của châu Âu về biên giới. Chúng tôi muốn nối ngang qua chúng. Không để ý đến chúng. Điều đó đúng với những biên giới chính trị như bức tường Béc-lin và đối với những biên giới nước như Oresund (Reid, 2000).

Thách thức đối với công việc về các đường biên giới đa dạng là làm thế nào để miêu tả chúng được chính xác hơn và giá trị của chúng liên quan tới những người sống ở cả hai bên, liệu chúng có bị tách biệt bằng một bức tường hay được nối với nhau bằng một cây cầu.

Mặc dù các biên giới quốc tế luôn hiển hiện trong các quan hệ quốc tế, các chức năng của chúng và đời sống của những “cư dân biên giới” những người sống dọc theo biên giới vẫn không được hiểu rõ. Vai trò của một “môi trường xung quanh vùng biên giới”phức tạp và không đồng nhất trong các quan hệ nội tại của các quốc gia có thể được xem xét thông qua các tác động chuyển giao qua lại diễn ra qua các biên giới quốc tế (Martinez, 1994). Ví dụ, một biên giới với các điểm kiểm soát tích cực và một số lượng tương đối lớn của việc thương mại xuyên biên giới làm nảy sinh ra ý tưởng của một vùng “vùng biên giới thống nhất” có tầm quan trọng thiết yếu với chính phủ của cả hai bên và với sự trao đổi năng động giữa các nhóm “quốc gia” và “chuyển giao”. Ngược lại, một biên giới bị cô lập với vài tác động qua lại của chính phủ với chính phủ có thể tỏ ra có ít giá trị chiến lược hay sự kiểm soát yếu ớt của chính phủ đối với một “vùng biên giới bị ghét bỏ” (có thể được quản lí hàng ngày, cơ bản bởi những nhân vật phi chính phủ như kiểu các tên buôn lậu hay dân quân). Như một sự lựa chọn, trong bức chân dung bi quan của Kaplan (2000), các biên giới quốc tế hầu như trở thành không thích hợp tại các khu vực nơi có các điều kiện tồi tệ, mất trật tự, nghèo đói và việc quản lí sao lãng việc xác định các tác động qua lại biên giới.

Các biên giới xung đột – quốc tế và nội địa

Các biên giới, sau đó có nhiều nghĩa, phụ thuộc vào ngữ cảnh, chức năng của chúng và nhận thức của những người sống gần đó. Chúng chính thức được miêu tả trong văn bản tài liệu, trên bản đồ và trên mặt đất thông qua việc đặt các cột mốc, các cột, phao hay các điểm kiểm soát nhập cư và hải quan. Các tranh chấp biên giới thể hiện trong các hiệp ước bị phá vỡ, việc thẻ hiện kĩ thuật vẽ bản đồ các yêu sách lãnh thổ chồng lấn và các vùng quân sự hóa dọc theo biên giới bị tranh chấp. Các xung đột biên giới , một mặt có thể tượng trưng cho sự căng thẳng hay biến đổi giữa mong muốn tự khẳng định của số ít và mặt khác là chủ quyền lãnh thổ được quốc tế công nhận.

Ngược lại với sự cố gắng rõ nét của Bowman (1992) nhằm đưa ra một cái nhìn tổng quan toàn thể địa lí chính trị sự chuyển thể lãnh thổ trên toàn thế giới sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, phần lớn nghiên cứu biên giới sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai (loại trừ một số ít nhà đị lí chính trị) đã không đề cập đến xung đột sắc tộc cơ bản. Ví dụ một loạt các nghiên cứu biên giới quốc tế dài hơi của Bộ Ngoại Giao Mỹ tập trung hơn vào các vấn đề hẹp liên quan đến các tranh chấp lịch sử về vấn đề ngôn ngữ hiệp ước, sự xâm nhập cụ thể ngang qua biên giới tranh chấp, và việc đặt các đường biên giới. Tương tự, các khía cạnh địa lí chính trị của lãnh thổ như nguyên nhân và tập trung vào các cuộc nội chiến khu vực cũng như sự khuyếch tán không gian của xung đột bạo lực trong phạm vi và bên ngoài khu vực – đã bị những người bị lôi cuốn vào nghiên cứu xung đột làm giảm đi độ quan trọng (Diehl, 1999;Goert và Diehl, 1992).

Trong khi tài liệu tập trung  nhiều vào các biên giới quốc tế, các cuộc khủng hoảng gần đây là kết quả do bạo lực dân tộc, các phong trào li khai và sự cách li của những lực lượng tham chiến đòi hỏi phải có nhiều nghiên cứu về các biên giới nội địa. Các biên giới nội địa tại nhiều nước nghèo, thường không được xác định rõ ràng và được thể hiện rất tồi trên bản đồ khổ lớn, tạo nên những khó khăn cho việc phân tích có tính hệ thống và so sánh. Các chính quyền có thể tạo ra sự thay đổi với các thực thể nội địa, bao gồm thay đổi tên và dịch chuyển quyền tài phán chính trị những điều không đưa vào văn bản rõ ràng. Nếu sự đe dọa cấp bách nhất đối với hòa bình quốc tế và sự ổn định không còn là do các cuộc chiến trong nước, mà là bạo lực quốc nội, các phân tích biên giới cũng cần phải dịch chuyển từ một lĩnh vực về căn bản không  mấy rảnh rang với các nghiên cứu biên giới quốc tế sang một lĩnh vực cũng rất thực sự bộn bề của việc phân chia hành chính nội địa. Nghiên cứu về phân chia chính trị nội địa (và các mức độ biểu hiện trong phạm vi những phân chia này) và vai trò của chúng trong việc giảm những xung đột dân tộc trong tương lai sẽ là khó khăn nhất tại nơi cần nhất. Bước đi đầu tiên, tuy vậy có thể được thực hiện tại cấp đầu tiên theo thứ tự hành chính (các tỉnh, các tiểu bang như ở Mỹ và các nước cộng hòa) thường là cấp yêu sách của các phong trào li khai (Kosovo, Casmia,…).

Các lãnh thổ còn tranh cãi

Một lãnh thổ đã được xác định giống như một biên giới có nhiều giá trị đối với dân chúng nằm trong giới hạn tác động (Newman, 1999). Lãnh thổ có thể là nguyên nhân rất rõ rệt của tình trạng bạo lực trong và giữa các quốc gia dựa trên giá trị nội tại, quan hệ và biểu trưng của nó nắm giữ đối với mỗi bên yêu sách các phần của vùng bị tranh cãi (Goert và Diehl, 1992). Giá trị nội tại có thể bao gồm các tài nguyên thiên nhiên (dầu mỏ, đất đai màu mỡ hay nguồn nước) trong phạm vi lãnh thổ, các đặc điểm vật chất (cảng nước sâu hay dãy núi có tác dụng phòng vệ), hay vị trí chiến lược của nó (một ngã tư của tuyến đường thương mại chính). Giá trị quan hệ của một lãnh thổ bị tranh chấp (và những người chiếm hữu nó) có thể được xác định dưới hình thức các chiến lược quốc gia tổng thể của mỗi một quốc gia hay nó có thể tác động thế nào đến sự hợp nhất của dân tộc quốc gia. Giá trị biểu tượng có thể là sự phản ánh các sự kiện lịch sử, các mốc văn hóa hay các khía cạnh khác có thể gắn kết lãnh thổ với nguyện vọng dân tộc. Nói chung, càng gần hơn hay tiếp giáp hơn một lãnh thổ bị tranh chấp càng là cốt lõi văn hóa của một quốc gia, giá trị quan hệ quốc gia của nó càng cao thì dường như nó càng được bảo vệ chặt chẽ.

Nhiều tài liệu về xung đột quốc tế đã xem xét các yếu tố lãnh thổ như yếu tố “tạo điều kiện thuận lợi” hơn là yếu tố “nguyên nhân”, nhưng một nghiên cứu về các xung đột lãnh thổ đã cho thấy chúng tương đối khác biệt hơn những xung đột không phải là xung đột lãnh thổ. Trong khi có ít hơn 3 phần của mọi cuộc “tranh chấp được quân sự hóa” giữa các quốc gia trong những năm 1816 và 1992 được tiến hành căn bản do những yếu tố lãnh thổ, các cơ hội của một cuộc tranh chấp leo thang trở thành một cuộc chiến lớn gấp 3 lần khi lãnh thổ đang ở tình trạng bấp bênh (hensel ,1999: 128). Quân sự hóa cuộc tranh chấp đối với lãnh thổ còn đang tranh cãi có thể vì thế khác nhau về tính khốc liệt, hậu quả và khả năng tái diễn, nhưng chúng tạo ra một ngưỡng nguy hiểm có thể dễ dàng leo thang thành các cuộc chiến tranh kéo dài và tổn hại.

Giải quyết xung đột đối với lãnh thổ vùng biên giới có thể từ rất đơn giản tới cực kì khó khăn, phụ thuộc một phần vào cách hiểu và giải thích kèm theo nó (Diehl, 1999: xii).Tại một phương diện, nó có thể là sự điều chỉnh không đáng kể một đường biên giới quốc tế giữa các quốc gia hữu nghị, hoặc thách thức hơn là việc giải quyết một tranh chấp lãnh thổ đối với một nguồn tài nguyên có giá trị cao đối với cả hai bên (dầu mỏ hay nguồn nước). Thậm chí khó khăn hơn là các tranh chấp lãnh thổ lôi kéo theo sự thay đổi vị trí hay giảm đi một số lượng lớn cư dân – đặc biệt nơi tảy rửa dân tộc một cách có hệ thống đang diễn ra, như tại vùng Ban-căng.

GIS và thông tin về vùng lãnh thổ

Một hệ thống thông tin địa lí (GIS) tổ chức các dữ liệu có trong không gian. Tiền đề chỉ đơn giản là các đặc điểm tự nhiên (một rặng núi hay một con sông) và các sự kiện (một vụ động đất hay lũ lụt) cũng như các hoạt động của con người có thể liên kết bằng vị trí của chúng.Các dữ liệu như thế có thể được tra cứu địa lí thông qua một bộ địa danh các nơi phổ biến, hay qua các tọa độ địa phương. Các địa danh hiện nay sẵn có qua các cơ sở dữ liệu trực tuyến. Trường dữ liệu cũng có thể được tra cứu địa lí một cách chính xác và tự động qua phép đo tam giác của hệ thống định vị toàn cầu (GPS). Mỗi lần dữ liệu tra cứu địa lí như vậy có trong không gian được tổ chức, chúng có thể được sử dụng để nghiên cứu các kiểu hành động của con người và các ảnh hưởng của chúng lên khung cảnh vật chất, hoặc ngược lại trong trường hợp lập kế hoạch và phản ứng đối với các thảm họa thiên nhiên. Các quan sát tra cứu địa lý của các hoạt động như vậy – việc sinh đẻ, chết chóc, bệnh tật, năng suất vụ mùa, đường sá, thành thị, các phân chia hành chính hay toàn bộ đất nước – có thể được “sắp thành lớp  và sử dụng để nghiên cứu các kiểu hành động của con người và kết quả của chúng.

 Tại vùng Ban-căng, GIS đã được dùng để lập tài liệu về các hậu quả khủng khiếp của kiểu hủy diệt có hệ thống và “sự tẩy rửa dân tộc” (Wood và Smith, 1997: Dziedzic và Wood, 2000).

Các công cụ GIS đã được áp dụng để nghiên cứu các thay đổi về lãnh thổ. Vanzo (1999) đã sử dụng các phân tích dựa trên cơ sở GIS để so sánh các hình thể biên giới Israel và Đức để giám định  độ chặt chẽ của các chiến lược” trong việc thụ đắc lãnh thổ. Độ chặt chẽ địa lí có thể được đo như mức độ lãnh thổ bị chiếm hữu tuân theo một đường tròn (khoảng không hiệu quả nhất đối với một lực lượng quân sự nhằm bảo vệ chính nó). Vanzo đã tính toán độ chặt chẽ bằng cách sưu tầm các bản đồ lịch sử và số hóa các đường biên giới thay đổi của nước Đức (trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đến sự thống nhất Đông – Tây năm 1990) và của Israel (1947-82). Sau đó ông đo kết quả của các đường véc tơ với chương trình GIS Mapinfo trọn gói, kết luận rằng trong cả hai trường hợp, độ chặt chẽ là yếu tố chiến lược quan trọng trong việc mở rộng và thu hẹp lãnh thổ (như Israel rút khỏi Sinai).

Việc đo giá  trị nội tại, quan hệ hay thậm chí biểu trưng của lãnh thổ trong phạm vi một bộ cơ sở dữ liệu liên kết  rất khó bởi vì các loại hình khác nhau của các phép đo về lượng được sử dụng. Giá trị nội tại của một lãnh thổ có thể được đo bằng các cách khác nhau, như giá đơn vị đất đai hay ngoại hối kiếm được phát sinh rút ra từ tài nguyên thiên nhiên. Các cuộc đàm phán lãnh thổ có bao gồm các dữ liệu có thể xác định được số lượng như các đoạn thẳng, số lượng các điểm vượt qua biên giới và các đặc điểm tự nhiên đáng chú ý (các con sông và các rặng núi). Việc điều tra dân số hay các dữ liệu nhân khẩu học cơ sở khác có thể được sử dụng để làm rõ nhiều vấn đề lãnh thổ, nhưng các giá trị văn hóa, lịch sử hay chiến lược khác thì khó xác định số lượng hơn. Trong khi các yếu tố định lượng có thể bao hàm cả các nhận thức thoảng qua hay chủ quan của các vung đang tranh chấp (có thể được đo bằng các cuộc thăm dò ý kiến), các quan điểm phổ biến có thể dẫn đến các áp lực chính trị quan trọng hơn các lập luận kinh tế “lí trí” về chi phí và lợi nhuận của việc duy trì, giành lấy hay chuyển nhượng một vùng tranh chấp cụ thể. Giá trị quan hệ cũng rất khó đo được bởi vì nó chỉ có thể được phân tích trong phạm vi ngữ cảnh các mục tiêu chiến lược của một quốc gia thường được xác định một cách mập mờ.

Lợi ích của GIS

Lãnh thổ thường chỉ là một mặt của tranh chấp song phương và bản thân GIS không thể giải quyết bất cứ một vấn đề lãnh thổ nào. Các công cụ GIS chỉ có thể có ích nếu được thực hiện trong các cuộc đàm phán với một bầu không khí chính trị đáng tin cậy. Dữ liệu GIS được tổ chức có thể làm sáng tỏ các yếu tố không gian của tranh chấp lãnh thổ và các quan hệ mật thiết về kinh tế, xã hội và quân sự của nó. Phần mềm GIS có thể áp dụng vào ảnh viễn thám, các mẫu đánh giá địa hình và các lớp dữ liệu số khác để có thể mường tượng về quy mô của vùng tranh chấp, các loại tài nguyên đang bị lâm nguy, dân cư có thể bị ảnh hưởng và các xem xét khác. GIS cũng là các biện pháp chứng minh cho việc khảo sát các viễn cảnh “nếu…thì sao” cho những thay đổi về lãnh thổ được đề nghị. Các bên có thể xem xét mỗi đề nghị thay đổi lãnh thổ dưới ánh sáng của nó có thể có ảnh hưởng thế nào tới các mục tiêu chiến lược và quốc gia của họ.

Trong suốt các cuộc hòa đàm Dayton vào mùa thu 1995, Trung tâm Kỹ thuật quân đội và Cục bản đồ Quốc phòng Mỹ (sau này trở thành Cục Bản đồ và Hình ảnh quốc gia) đã đóng góp hơn 100.000 tấm bản đồ cũng như khả năng đầy thuyết phục trên thực địa trong việc số hóa và trình bày rất nhiều lớp dữ liệu về sự tàn phá của chiến tranh ở Bosnia và Herzegovia. Thời gian thực sự của việc thao tác hình ảnh và đánh giá dữ liệu số hóa, cộng với sự phân chia lãnh thổ dự kiến và các bước cần phải tiến hành để đạt được mục tiêu đường biên giới đã được thỏa thuận giữa các thực thể. Chú ý là việc sử dụng các phần mềm địa hình trực quan và ảnh viễn thám với các giải pháp khác nhau, cho phép các nhà đàm phán hầu như “bay qua” các vùng được phân chia (Jonhson, 1999).

Các nhà đàm phán lãnh thổ có thể sử dụng các công cụ GIS để nghiên cứu, phân tích và trình bày dữ liệu một cách nhanh chóng, điều này giúp họ hiểu rõ hơn quy mô các thay đổi được đề xuất cũng như các mối quan hệ tại địa phương  và khu vực. Việc sử dung GIS có hiệu quả trong bất kì cuộc đàm phán nào, vì vậy mà yêu cầu cả hai phía phải cam kết việc phát triển các cơ sở dữ liệu rõ ràng liên quan tới tranh chấp. Các biện pháp xây dựng lòng tin ban đầu đó có thể bao hàm đào tạo chung việc sử dụng các công cụ GIS và cách quản lí cơ sở dữ liệu cũng như nỗ lực cộng tác lâu bền nhằm xây dựng các lớp dữ liệu có thể tiếp cận được và đáng tin cậy cho vùng tranh chấp.

Một bài học quan trọng rút ra từ Dayton là bản đồ bổ trợ cho các cuộc đàm phán là từ một nguồn duy nhất, chính xác, không thiên vị đối với cả hai phía (Jonhson,1999). Việc sử dụng đổi mới các công cụ GIS và sự phối hợp chặt chẽ với các nhà đàm phán cũng rất quan trọng cho sự thành công. Trong 5 năm, tính từ Dayton, các công cụ quản lí dữ liệu GIS đã trở nên mạnh hơn và dễ sử dụng hơn, điều này làm cho chúng thậm chí có tính áp dụng hơn đối với các nhiệm vụ khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ phức tạp và có độ trầm trọng lớn.

Các lớp dữ liệu

Trong khi phần mềm GIS tinh vi bây giờ có thể xử lí phần lớn các chất vấn chất vấn của các nhà đàm phán, thì khó khăn chủ yếu – có vẻ cả hai phía đang hành động với thiện chí – là thu được các dữ liệu tham chiếu địa lí có liên quan và phải chính xác. Các dữ liệu như vậy thường không hiện hữu , lạc hậu, được tổ chức kém, được phân loại hay còn đang bị tranh cãi kịch liệt bởi phía này hay phía kia. “Bản đồ cơ sở” hay “khoảng không địa lí cơ sở” đối với một nỗ lực như vậy có thể bao gồm các dữ liệu địa vật lí, cụ thể là các đặc điểm địa hình và tự nhiên mà có thể ảnh hưởng đến việc phân định. Phổ biến chung là, các dữ liệu đánh giá địa hình số hóa được dùng như các lớp bản đồ cơ sở, nhưng các bản dồ ảnh trực diện đang được sử dụng ngày càng tăng như một lớp cơ sở chủ đạo, đặc biệt trong vùng không có bản đồ được cập nhật và bản đồ tỉ lệ lớn (1/25.000 và tốt hơn) bởi vì chúng là phương tiện nhanh chóng và chính xác có liên quan để miêu tả các đặc điểm mặt đất. Việc sử dụng dù sao bị hạn chế do khả năng tiếp cận của chúng bị giới hạn, chi phí tiếp nhận cao và nhu cầu lưu trữ dữ liệu lớn.

Về mặt chính trị, đối với các nhà đàm phán, bản đồ cơ sở phải thể hiện ít nhất các lớp dữ liệu có vấn đề trong phạm vi GIS, bởi vì các lớp này phản ánh một cách rộng khắp các đặc điểm “đối tượng” phong cảnh. Tuy thế, cả hai bên đang có tranh chấp buộc phải tin tưởng rằng bản đồ cơ sở là chính xác và không làm lợi cho bên này mà lại gây thiệt hại cho bên kia. Ngoài lớp khoảng không địa lí cơ sở, dữ liệu hiện có, nguồn và vấn đề tài chính có thể trở thành nguyên nhân chủ yếu gây mối bất hòa giữa các bên tranh chấp. Do đó có vai trò quan trọng nên việc điều đình được thực hiện với các bên trước khi bắt đầu các cuộc đàm phán chính thức, việc thu thập, tổ chức các lớp dữ liệu tham chiếu địa li có thể được cả hai phía chấp nhận. Sự tùy biến của các lớp dữ liệu, lần lượt yêu cầu rằng cả hai phía cùng phát triển thông tin về các vấn đề đàm phán chủ đạo được thừa nhận có thể cùng chia sẻ với nhau. Thực vậy thỏa thuận “kĩ thuật” về cơ sở khoảng không địa lí có thể là biện pháp bị chỉ trích để xây dựng lòng tin trước khi bắt đầu các cuộc đàm phán chính thức.

Thậm chí với sự ủng hộ vững chắc của hai bên tranh chấp, sự phát triển của một bản đồ cơ sở chính xác có thể mất nhiều tuần để phát triển, phụ thuộc vào quy mô của vùng đang điều tra, khổ bản đồ yêu cầu và độ chi tiết chính xác mong muốn. Những khó khăn về kĩ thuật bao gồm tổng hợp số lượng lớn các dữ liệu số hóa khác loại (nếu các sản phẩm thương mại tiêu chuẩn không sẵn có) và định dạng dữ liệu đến các tài liệu tham khảo đo đạc phổ biến. Với công nghiệp GIS chuyển hướng về dữ liệu lớn hơn giữa khả năng vận hành của một lớp dữ liệu cụ thể - trong trường hợp này GIS có thể phục vụ như một phương tiện để khảo sát những khác biệt trong dữ liệu, vì tương phản với dữ liệu chỉ phục vụ khía cạnh về trực quan lãnh thổ của các cuộc đàm phán. Thực vậy, thỏa thuận về các lớp dữ liệu được chấp nhận và giải pháp của những vấn đề chưa thống nhất có thể là bước đi khác bị chỉ trích trong các cuộc đàm phán lãnh thổ có hiệu quả.

Hình ảnh và các cuộc đàm phán

Trong khi viễn thám thương mại đã được sử dụng từ lâu để dò tìm các thay đổi về môi trường trên mặt trái đất, nó hiện không ngừng đóng một vai trò quan trọng trong các cuộc đàm phán lãnh thổ. Ảnh chụp từ trên không đã được sử dụng như một phần của quá trình lập tài liệu đối với các hiệp ước phân định. Hơn nữa, ảnh chụp từ trên không có thể được sử dụng hỗ trợ việc đặt vị trí các mốc giới và lập hồ sơ chính thức việc hoạch định đã hoàn chỉnh. Các cuộc khảo sát trên không như vậy có thể đưa ra cách giải quyết ảnh, cung cấp cho các nhà đàm phán biên giới một phương pháp để tiếp cận tốt hơn với các điều kiện trên thực địa có thể có tác động đến việc phân định (như để tránh việc chia đôi đất đai) và hoạch định (như việc xác định đường rãnh sâu luồng chính của sông). Cuối cùng, ảnh có thể được sử dụng như một phần của một chương trình thường kì để xác định những thay đổi có thể ảnh hưởng tới đường biên giới (sự thay đổi dòng chảy của sông), hay điều kiện vật lí và sự vị trí của các mốc giới.

Ảnh viễn thám thương mại có thể và nên thể hiện như một lớp dữ liệu chủ đạo đối với mọi tranh chấp biên giới, đặc biệt đối với các vùng nơi các bản đồ khổ lớn, chính xác, được cập nhật không sẵn có – nói cách khác, cho hầu hết mọi nơi trên thế giới. Giải pháp ảnh thương mại càng trở nên chính xác và linh hoạt hơn, đưa ra một số ứng dụng khác nhau có thể hợp nhất trong phạm vi quá trình phân tích biên giới dựa trên cơ sở GIS. Tại giải pháp thấp hơn đến thấp nhất, LandSat và RadarSat (lớn hơn giải pháp 15 m) đưa ra  các công cụ ảnh dựa trên rada và đa quang phổ mạnh để tiếp cận với những thay đổi trên đất liền có thể ảnh hưởng đến các cuộc đàm phán biên giới – cụ thể là cho việc tính toán lãnh hải và những phép đo khác yêu cầu việc xem xét các vùng rộng lớn của bề mặt trái đất. Tại mức giải pháp trung bình, các vệ tinh như Indian IRES và European SPOT (lớn hơn giải pháp 5m) đưa ra ảnh toàn sắc tại quy mô có thể được sử dụng để xác định việc phân định biên giới. Tại mức giải pháp cao hơn, ảnh chụp trên không theo truyền thống và vệ tinh Space Imaging IKONOS đưa ra giải pháp 1m và hình ảnh tốt hơn nếu được điều chỉnh chuẩn, có thể được sử dụng để điều chỉnh việc phân định cụ thể và lập tài liệu hoạch định.

Việc sử dụng ảnh thương mại cho các cuộc đàm phán biên giới có vài điều cân nhắc quan trọng. Sự cân nhắc thứ nhất là tính sẵn sàng và sự đồng tình mà đôi khi không phải dễ đáp ứng. Trong khi các bản kê ảnh cho các nước đã phát triển đang tăng, số thu thập vào để hoàn chỉnh và đồng bộ theo giải pháp thích hợp thường thiếu nhiều về phần các nước đang phát triển của thế giới. Các mối quan tâm quân sự cụ thể đối với các vùng biên giới, liệu cả hai bên có sẵn lòng sử dụng ảnh như một phần cho các cuộc đàm phán của họ? Cân nhắc thứ hai là chi phí và các phân tích. Ảnh sẽ rẻ hơn, nhưng số lượng thu thập đầy đủ về một biên giới dài có thể vẫn phải chi phí đến vài triệu đô la. Sự cân nhắc thứ ba là ảnh được sử dụng như thế nào trong các  cuộc đàm phán biên giới và như một hồ sơ thường trực cho quá trình phân định /hoạch định cũng như việc sử dụng nó như một phấn của chế độ giám sát biên giới. Ảnh sẽ được tổ chức, lưu trữ, tiếp cận, đánh dấu và cập nhật như thế nào?

Tóm tắt

Bài viết này là một cái nhìn tổng quan rộng khắp về tiềm năng áp dụng của GIS cho việc phân tích vùng biên giới và tính động qua biên giới nói chung và các cuộc đàm phán lãnh thổ nói riêng. Như mọi công cụ “kỹ thuật” khác, GIS được thực hiện một cách phù hợp có thể tiến xa ra ngoài tấm bản đồ và bút chì để trợ giúp trong việc giải quyết các vấn đề biên giới phức tạp. Việc sử dụng đầy đủ GIS như một phần của bộ công cụ ngoại giao và hòa giải sẽ chỉ đạt được khi các nhà đàm phán nhận thức rằng trong một thế giới ngày càng trở nên chật hẹp, với nhiều biên giới và sự cạn kiệt các tài nguyên thiên nhiên, việc giải quyết các vấn đề còn nhiều hơn việc thực thi hai chiều.

Các cuộc đàm phán lãnh thổ về cơ bản là một quá trình thực hiện các giải pháp chính trị bao gồm một loạt các dữ liệu rộng lớn về tiềm năng, một vài dữ liệu có tầm quan trọng hiển nhiên và các loại khác ít hơn. Một khi các lớp dữ liệu cơ bản được thống nhất, các nhà đàm phán sẽ có quan điểm áp dụng GIS như một công cụ mạnh cho các phân tích lãnh thổ và đưa ra các quyết định hòa giải. Liệu các kết quả GIS có khả năng đem lại một biên giới ổn định và tương tác đôi bên hay không thì nằm ngoài các khía cạnh kĩ thuật của đàm phán và cũng có thể sa vào thế giới âm u hơn của phạm trù địa chính trị.

Tài liệu tham khảo

-Anderson, M: (1996) Các vùng biên giới – Sự hình thành lãnh thổ và quốc gia trong thế giới hiện đại, Cambridge: NXB chính trị.

-Anderson , M và Bort, E. (1998) Các vùng biên giới của Châu Á, Luân Đôn: Pinter

-Bowman, I. (1922) Thế giới mới – các vấn đề trong địa chính trị, Yonders – on Hudson: Công ty sách Thế giới.

-Ủy ban Carnegie về ngăn chặn xung đột nghiêm trọng (1997) Ngăn chặn xung đột nghiêm trọng, Công ty Carnegie ở Newyork.

-Dziedzic, M. và Wood, W. (2000) Tóm tắt hồ sơ Kosovo – Quản lý thông tin đưa ra cơ hội mới cho việc hợp tác giữa các thực thể dân sự và quân sự. Loạt bài nghệ thuật ngoại giao cơ bản, Viện Vì hòa bình Mỹ.

-Goert, G. và Diehl, P.(1992) Các thay đổi lãnh thổ và xung đột quốc tế, Luân Đôn và New York: Routlege.

-Hensel, P.(1999) “Lập biểu đồ quá trình dẫn đến xung đột: các vấn đề lãnh thổ và xung đột nội địa, 1816 – 1992”, trong Diehl, P. (biên tập) Con đường dẫn đến chiến tranh – quy mô xung đột lãnh thổ, Nashville và Luân Đôn; NXB Đại học Tổng hợp Vanderbilt.

-Jonhson, R. (1999) Đàm phán hiệp ước hòa bình Dayton thông qua các bản đồ số hóa. Viện vì hòa bình Mỹ (USIP), Báo cáo nghệ thuật ngoại giao cơ bản.25/2(www.uisp.org/oc/vd/vdr/rjonhsonisa99.html).

-Kaplan, R. (2000) Tình trạng vô chính phủ sắp tới – phá hỏng giấc mơ của giai đoạn sau Chiến tranh Lạnh, Random House.

-Martine, O. (1994) “Tính động của các tác động qua lại biên giới”, đoạn 1-14 trong Schofield, C.H (biên tập) Các biên giới toàn cầu, các biên giới thế giới, tập 1, Luân Đôn và  New York: Routledge.

-Newman, D. (1999) “Khoảng không thực sự, khoảng không biểu trưng: Các ý niệm liên quan qua lại của lãnh thổ trong xung đột Ả-rập - I-xra-en”, đoạn 3-36 trong Diehl, P. (biên tập) trong Con đường dẫn đến chiến tranh – quy mô xung đột lãnh thổ, Nashville và Luân Đôn: NXB Đại học Tổng Hợp Vanderbilt.

-Paasi, A. (1998) “Địa chính trị của các biên giới vào cuối thiên nhiên kỉ: các thách của việc giải tán thế giới lãnh thổ”, trong Eskelinen, H. liikanen, i. và J oska, J. (biên tập) Các bức mành sắt và vàng – tài xây dựng các biên giới và quy mô của các tác động qua lại, NXB Ashgate.

-Prescott,J. R. V (1987) Các vùng biên giới và các biên giới chính trị, Luân Đôn: Unwin Hyman.

-Reid, T. (2000) “Cầu nối đến phân chia lục địa”, Bưu điện Oa-sinh-tơn, (2/7): A18.

-Reitsma, H – J. (1983) “Các biên giới như các rào chắn – dự đoán của các nước không có biển”, trong Kliot, N. và Waterman, S. (biên tập) Tính đa nguyên và Địa chính trị- Dân cư, Lãnh thổ và Quốc gia, Luân Đôn và Canbera: Croom Helm.

-Starr, H.(1999) Sử dụng hệ thống thông tin địa lí để xem lại những ganh đua lâu dài: Vụ I-xra-en Đại học Tổng hợp Nam Carolina, tài liệu không công bố. (2000) “Cơ hội, thiện ý và các hệ thống thông tin địa lí (GIS): về nhận thức biên giới trong các mối quan hệ quốc tế”, bài viết được chuẩn bị cho hội nghị Các phương pháp luận mới đối với các ngành khoa học xã hội: Sự phát triển và ứng dụng của các phân tích không gian cho phương pháp luận chính trị, Viện khoa học ứng sử, Đại học tổng hợp Colorado, Boulder, 10 -12/3.

-Thomas, B. (1999) “Các biên giới quốc tế: các đường trên cát (và biển)”, đoạn 192-208 trong Demko, G. và Wood, W. (biên tập) Sắp xếp lại trật tự các viễn cảnh địa chính trị thế giới vào thế kỉ 21, Boulde; NXB West View.

-Waterman, S. (1994) “Các biên giới và thay đổi trật tự chính trị thế giới, tập 1, Luân Đôn và New York: Routledge.

-Wood, W. (Sắp xuất bản) “Khía cạnh địa lí của tội diệt chủng: so sánh Bosnia và Ru-an-đa”, Kỉ yếu của Viện các nhà địa lí Anh.

-Wood, W. và Smith, D. (1997) “Bản đồ tội phạm chiến tranh”, phân tích về việc tẩy rửa dân tộc ở Bosnia dựa trên cơ sở GIS”, thế giới GIS, tháng 9: 56-58.

Nguyễn Bích Thủy

(Sưu tầm và giới thiệu)

 


* Tiến sĩ William B. Wood là giám đốc của Văn phòng Nhà Địa lý và các vấn đề toàn cầu, Cục tin tức và nghiên cứu – Bộ Ngoại giao Mỹ.

 

Đại Nam Nhất Thống toàn đồ
Bản đồ Việt Nam thời Nguyễn vẽ khoảng năm 1838, đã vẽ "Hoàng Sa", "Vạn lý Trường Sa" thuộc lãnh thổ Việt Nam, phía ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam.
Các quy định pháp lý về xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa
Bản đồ “đường lưỡi bò” được Trung Quốc cho lưu hành ở Liên hợp quốc tháng 5/2009, nhưng Trung Quốc không hề có một lời giải...
Giấy thông hành biên giới do Công an tỉnh cấp để qua lại cửa khẩu chính, cửa khẩu quốc tế công tác và thăm viếng hữu...
Kháng nghị hàng hải là văn bản do thuyền trưởng của tàu biển lập ra để công bố hoàn ảnh của tàu và những biện pháp...
Bài hát về biên giới, biển đảo
Tên bài hát: Bạch Long Vĩ đảo quê hương
Nhạc và lời: Huy Du