Cập nhật: 06:27 GMT + 7, Thứ bảy ngày 25/05/2013
Luật pháp quốc tế
Một số tiêu chí của học thuyết “Tôn trọng sự liên tục và ổn định lãnh thổ và các đường biên giới” trong luật pháp quốc tế
(09/05/2011)

1. Đặt vấn đề

Bầu không khí chính trị quốc tế có thể bị hâm nóng hay nguội phụ thuộc rất nhiều vào quan hệ giữa các quốc gia. Trong đó, các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ quốc gia được đánh giá là hết sức nhạy cảm, căng thẳng và phức tạp. Do đó, để giảm thiểu sự xung đột, mâu thuẫn giữa các quốc gia đang có bất đồng về các vấn đề biên giới, lãnh thổ và nhằm đạt được sự hòa bình, an ninh chung, người ta khuyến khích việc duy trì ổn định và cố định các đường biên giới và vùng lãnh thổ. Shaw (1996) đã nhận xét rằng “thật khó có thể đạt được một xã hội có trật tự và phồn vinh nếu không có sự ổn định về lãnh thổ[1].

Tuyên bố đầu tiên về quy tắc này được chỉ ra trong Vụ Grisbadarna, theo đó tháng 10/1909, Tòa án trọng tài thường trực tuyên bố rằng “một nguyên tắc pháp lý đã được hình thành giữa các quốc gia là bất kể cái gì đang tồn tại hay đã tồn tại một thời gian dài trong thực tế càng ít bị thay đổi càng tốt[2]. Theo đó, tuyên bố này được hiểu là ở những nơi đã có những đường biên giới tồn tại (bằng hiệp định hay được chấp nhận) thì chúng nên được duy trì và bảo quản. Nói cách khác, các bên liên quan trong những hoàn cảnh đặc biệt có thể điều chỉnh đường biên giới nếu thấy cần thiết, song điều này không được khuyến khích. Shaw (1996) cũng đã khẳng định “…không có sự thay đổi nào không thể xảy ra, nhưng nó chỉ có thể diễn ra một cách rõ ràng, an toàn và theo đúng quy định[3]. Thông thường, biên giới lãnh thổ được xác định thông qua đồng thuận giữa các bên và họ đều mong muốn vấn đề này được giải quyết một cách hoàn chỉnh đến cùng và ổn định. Trong Vụ Beagle Channel 1977, viện dẫn hiệp định giữa Ác-hen-ti-na và Chi Lê năm 1881, Tòa án trọng tài nhận xét “một thể chế được hình thành từ hiệp định, chứ không phải từ điều gì khác nhằm giải quyết vấn đề biên giới và danh nghĩa đối với lãnh thổ … và nó có nghĩa là được xách định đến cùng và hoàn chỉnh, không có đoạn biên giới hay phần lãnh thổ nào chưa được giải quyết hoặc bỏ trống[4].

Có thể nhận xét từ thực tiễn quốc tế rằng học thuyết tôn trọng sự liên tục và ổn định lãnh thổ và các đường biên giới đã được áp dụng dưới nhiều hình thức khác nhau. Để vận dụng nó cần phải xem xét những khía cạnh tổn hợp. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, những biên giới lãnh thổ được hình thành một cách phi pháp và không có giá trị thì không thuộc đối tượng điều chỉnh của học thuyết này.

Những cơ sở chính để áp dụng học thuyết cần xem xét là:

- Sự thừa nhận hay im lặng trước một hành động cần phản đối;

- Sự kế thừa nhà nước về biên giới lãnh thổ theo các hiệp định;

- Hoàn cảnh thay đổi và các hiệp định biên giới;

- Các biên giới truyền thống;

- Sự ép buộc trong xây dựng các hiệp định biên giới;

- Các biên giới tạm thời được xác định trong quá trình xác định chủ quyền lãnh thổ.

Dưới đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng nội dung cụ thể của nó.

2. Sự thừa nhận hay im lặng trước một hành động cần phản đối

Sự thừa nhận hay im lặng trước một hành động cần phản đối không phải là một trong những phương thức thụ đắc lãnh thổ, tuy nhiên chúng vẫn có thể gây ảnh hưởng tới danh nghĩa đối với lãnh thổ.

Trong luật pháp, Acquiescence (ngầm thừa nhận) được hiểu là sự im lặng của một bên liên quan trong một khoảng thời gian nào đó, mà lẽ ra họ phải đưa ra một sự phản đối chống lại một hành động của một quốc gia khác. Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, cũng có khi do thiếu thông tin hoặc kiến thức về những quyền hay nghĩa vụ pháp lý mà quốc gia đã không đưa ra được những phản ứng cần thiết. Cụm từ “khoảng thời gian nào đó” vì thế được đưa ra để nhận biết rõ thái độ của các bên liên quan, đủ để khẳng định rõ về sự im lặng và cũng coi là đủ để quốc gia có thể kịp hành động (phản đối/không phản đối). Cho đến nay chưa có ai khẳng định rõ “khoảng thời gian” đó là bao nhiêu, song nếu quá thời gian đó, Acquiescence sẽ bị coi là một thỏa thuận hay nhất trí ngầm (tacit) về danh nghĩa đối với lãnh thổ. Đồng thời nó cũng có thể được xem như một sự công nhân trên thực tế (recognition de facto) một thực trạng do phía bên kia tạo ra.

Trong khi đó “thừa nhận” được Shaw (1997) giải thích: “Thừa nhận là một hành động có chủ ý của quốc gia nhằm chấp nhận một thực tế cụ thể, mặc dù có ngụ ý phản ánh toàn bộ những hoàn cảnh liên quan. Nó cũng chính là sự khẳng định sự tồn tại của một nhà nước cụ thể trên thực tế[5]. Nói cách khác, thừa nhận có thể được coi là một sự im lặng hay thống nhất của một quốc gia về một thực tế do hành động của một quốc gia khác gây ra. Thừa nhận được xem như một sự nhất trí hay đồng thuận của quốc gia mà kết quả là nó có thể được sử dụng như một minh chứng về củng cố danh nghĩa đối với lãnh thổ của quốc gia liên quan.

Trong vụ Nghề cá năm 1951 giữa Anh và Na Uy, do Anh đã im lặng suốt 60 năm mà không hề có một phản đối nào chống lại tuyên bố về hệ thống đường cơ sở thẳng của Na Uy, Tòa án pháp lý ước tế đã chấp nhận thực tế yêu sách do Na Uy đưa ra[6]. Tương tự như thế, trong tranh chấp về đền Preah Vihear, Thái Lan đã chấp nhận bản đồ do Pháp thay mặt Căm-pu-chia đưa ra (thể hiện ngôi đền thuộc phía Căm-pu-chia) và không hề phản đối khi bắt gặp cờ của Pháp cắm ở ngôi đền (chuyến thăm của Hoàng tử Thái Lan). Sau đó nhiều năm, khi nhận ra vấn đề, Thái Lan không có cơ hội làm lại việc đó và kết quả là Tòa đã chấp nhận chủ quyền của Căm-pu-chia tại ngôi đền này[7]. Một trường hợp khác là Trung Quốc không thừa nhận tư cách pháp lý của chính quyền Tây Tạng trong một hiệp định ký với Ấn Độ năm 1914, nhưng yêu sách đó không được chấp nhận vì Trung Quốc không hề đưa ra bất kỳ một phản đối nào trong nhiều năm. Quy tắc Acquiescence đã được áp dụng để phủ nhận yêu sách của Trung Quốc và hiệp định ký năm 1914 vẫn tiếp tục có hiệu lực[8].

3. Sự kế thừa nhà nước về biên giới lãnh thổ theo các hiệp định

Theo tiến sĩ Kaikobad (1983): “Quy tắc chung của luật quốc tế tập quán về vấn đề này là, về nguyên tắc, khi kế thừa từ người tiền nhiệm: quốc gia hưởng không hơn và không kém lãnh thổ đó[9]. Quy tắc này cũng đã được nhiều học giả thừa nhận và trên thực tiễn quốc tế, nó được áp dụng trên cơ sở học thuyết về tôn trọng sự liên tục và ổn định lãnh thổ và các đường biên giới khi có sự kế thừa nhà nước. Ngoài ra, quan điểm hết sức cơ bản uti possidetis (sẽ có cái vốn đã có) của các nước châu Mỹ La-tinh vẫn tồn tại và đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định các biên giới.

Hội nghị lần thứ 53 năm 1968 của Hội Luật gia quốc tế đã thông qua nghị quyết về sự kế thừa của các quốc gia mới: “Khi một hiệp định quy định việc phân định biên giới quốc gia giữa hai quốc gia đã được thực hiên, theo đó đường biên giới đã được hình thành thì không cần phải làm gì thêm nữa … và phạm vi lãnh thổ quốc gia cũng đã được xác lập[10].

Điều 11 Công ước Viên về kế thừa nhà nước 1978 quy định “Sự kế thừa quốc gia không ảnh hưởng tới:

a) một đường biên giới đã được xác định bởi một hiệp định; hay

b) các nghĩa vụ và quyền được xác định bởi một hiệp định liên quan tới thể chế biên giới.

Những quy định này là sự khẳng định chính thức nguyen tắc duy trì biên giới ổn định khi xuất hiện sự kế thừa nhà nước.

Trong thực tiễn quốc tế, như có thể thấy ở khu vực châu Phi, hiện trạng của biên giới đã được duy trì nguyên vẹn như trước khi các quốc gia này được độc lập. Vào tháng 7/1964, các nguyên thủ quốc gia – thành viên của Tổ chức liên minh châu Phi nhóm họp tại Cai-rô (Ai Cập) đã thống nhất “tôn trọng các biên giới đang tồn tại khi giành được độc lập[11]. Đến tháng 10/1964, cũng tại Cai-rô, trong tuyên bố cuối cùng của các quốc gia tham gia Hội nghị thượng đỉnh các nước Không liên kết, đại diện của châu Á, Mỹ La-tinh và châu Phi đã thống nhất “tôn trọng biên giới như chúng đã tồn tại khi các quốc gia giành được độc lập[12]. Một ví dụ cho trường hợp này là quan hệ giữa Tanganykia và Nyasaland, biên giới giữa hai quốc gia đã được xác lập theo hiệp định 1890 giữa Anh và Đức, ngày 11/6/1962, Thủ tướng Tanganykia đã phát biểu trước Quốc hội:

... Sẽ không có việc thay đổi biên giới Tanganyika do chính phủ Anh xác lập với tư cách quốc gia ủy trị...Cho dù có những bất lợi đối với Tanganyika, chính phủ này cũng không có ý định đàm phán lại với chính phủ Liên bang...hay chính phủ Anh để thay đổi biên giới Nyasaland. Nếu muốn, họ phải thỏa thuận với chính chính phủ Nyasaland và phải chờ tới khi có đề nghị chính thức của quốc gia Nyasaland độc lập”[13]

Từ đó có thể thấy rằng quy tắc của học thuyết về ổn định biên giới trong kế thừa nhà nước đã được các quốc gia tôn trọng rộng rãi. Thực trạng của biên giới chỉ có thể được thay đổi theo sự đồng thuận của các quốc gia liên quan.

4. Hoàn cảnh thay đổi và các hiệp định biên giới

Quan điểm này được hiểu là các quyền và nghĩa vụ trong một hiệp định biên giới không thể bị thay đổi theo hoàn cảnh trừ khi có sự thống nhất của các quốc gia liên quan hay có quy định của chính hiệp định đó. Haraszti (1975) khẳng định “...vì hòa bình và an ninh quốc tế, điều nên làm là tuyên bố rằng biên giới giữa các quốc gia không thể bị phản đối ngay cả khi có sự thay đổi về hoàn cảnh”[14].

Điều 62.2 Công ước Viên về Luật điều ước 1969 quy định: “Sự thay đổi cơ bản hoàn cảnh sẽ không được viện dẫn để chấm dứt hay rút khỏi hiệp định: (a) nếu đó là hiệp định về biên giới”. Theo đó, các quyền và nghĩa vụ trong một hiệp định biên giới là rất nghiêm ngặt và cố định ngay cả khi có sự thay đổi lớn về hoàn cảnh. Về tranh chấp giữa I-ran – I-rắc về biên giới Shatt-a-Arab, Al – Izzi (1972) nhận xét “các hiệp định biên giới xác định các vị trí có đặc trưng ổn định và cuối cùng, vì thế không bị ảnh hưởng bởi những thay đổi hoàn cảnh”[15].

5. Các biên giới truyền thống

Kaikobad (1983) nhận định: “Luật quốc tế thừa nhận rằng trong những hoàn cảnh nhất định, biên giới truyền thống hay theo tập quán, như biên giới đang tồn tại không được xác lập từ một hiệp định hay một văn kiện quốc tế mà theo tập quán và truyền thống, được coi như một biên giới hợp pháp tạo nên các quyền lãnh thổ có giá trị đối với cả hai bên”[16]. Như vậy, biên giới truyền thống trong những điều kiện cụ thể có thể trở thành biên giới chính thức với đầy đủ hiệu lực pháp lý của nó và được tôn trọng, bảo vệ bởi luật pháp quốc tế. Quan điểm này phản ánh nguyên tắc của học thuyết về tính liên tục và ổn định của các đường biên giới trong luật quốc tế cũng như tập quán quốc tế.

Trong Vụ Rann and Kutch 1968, do không hề có một hiệp định biên giới toàn diện giữa các bên, nên cả Ấn Độ và Pa-ki-xtan đều phản đối đường biên giới truyền thống lâu đời ngăn cách quyền lực giữa các thực dân trước đó. Tòa đã không công nhận việc xác định vị trí đường biên giới mà tập trung vào các tiêu chí truyền thống. Thẩm phán Ales Bebler, thành viên hội đồng giải thích: “Như chúng đã tồn tại (các biên giới truyền thống), dù được mô tả hay chưa được mô tả, được vẽ hay chưa được vẽ, chúng vẫn tồn tại. Chúng tồn tại theo luật pháp quốc tế trong mọi trường hợp – được mô tả và được vẽ trong hiệp định hoặc không. Chúng được nhìn nhận theo nghĩa thông thường như một sự ràng buộc các nước láng giềng”[17].

Như vậy, luật quốc tế khẳng định ý nghĩa pháp lý quan trọng của các đường biên giới tồn tại theo truyền thống, lịch sử và tập quán. Nơi nào quốc gia có thể chứng minh sự hiện diện của một biên giới truyền thống, họ có thể sử dụng nó vào mục đích yêu sách danh nghĩa đối với lãnh thổ trong những hoàn cảnh thích hợp.

6. Sự ép buộc trong xây dựng các hiệp định biên giới

Phần này bàn về giá trị của các hiệp định biên giới. Theo tinh thần chung, luật pháp quốc tế không chấp nhận một hiệp định ký kết do ép buộc. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để đánh giá được giá trị pháp lý của một hiệp đinh, nếu nó được ký kết vào thời điểm chưa có khái niệm “ép buộc” trong luật quốc tế. Trả lời câu hỏi này, Điều 64 Công ước Viên về Luật điều ước chỉ rõ “khi xuất hiện một ý niệm mới trong luật pháp quốc tế, mọi hiệp định xung đột với ý niệm này sẽ không có giá trị và chấm dứt”.

Như đã nói trên, một hiệp định biên giới không có giá trị pháp lý thì không thuộc đối tượng điều chính của quy tắc chung của học thuyết biên giới liên tục và ổn định.

7. Các biên giới tạm thời được xác định trong quá trình xác định chủ quyền lãnh thổ

Các ranh giới tạm thời có thể được dùng cho nhiều mục đích: ngăn cách hai phần của một quốc gia (Bắc - Nam Triều Tiên, Bắc - Nam Việt Nam, Đài Loan - Trung Quốc); khoanh một vùng lãnh thổ nào đó (Bờ Tây hay Cô-xô-vô) ... nghĩa là, nó có thể là ranh giới cho các vùng ở Nam cực, chia một quốc gia thành hai quốc gia có chế độ chính trị khác nhau trong một giai đoạn nào đó cũng như là ranh giới tạm thời ngăn cách phạm vi chủ quyền giữa các quốc gia.

Vì nhiều lý do khác nhau, biên giới tạm thời được xác lập, trong đó có nguyên nhân của những bất đồng chưa thể giải quyết ngay được. Biên giới tạm thời thường được tạo ra để phù hợp với nhu cầu và những hoàn cảnh khó khăn giữa các quốc gia liên quan, vì thế trong luật pháp và thực tiễn quốc tế chúng nên được thừa nhận cho tới khi có được một giải pháp cuối cùng. Hơn nữa, danh nghĩa của biên giới tạm thời cũng có thể dần dần được chuyển thành biên giới hính thức trong những điều kiện thích hợp nhằm duy trì sự ổn định chung trong quan hệ giữa các quốc gia và của cả cộng đồng.

8. Kết luận

Qua nghiên cứu vai trò của học thuyết và những điều kiện để áp dụng nó, chúng ta có thể đi đến kết luận rằng biên giới nên được duy trì ổn định và bền vững vì mục đích an ninh và hòa bình. Tuy nhiên, những biên giới đã tồn tại và có giá trị giữa các bên liên quan. Nói khác đi, học thuyết về tính liên tục và ổn định biên giới không được áp dụng cho những biên giới không có giá trị theo luật pháp và tập quán quốc tế.

Mặc dù vậy cũng phải nhận thấy những khó khăn khi áp dụng học thuyết này. Trong nhiều trường hộp, đặc biệt là đối với các biên giới truyền thống, nơi khó có thể xác định vị trí chính xác của những con đường (thiếu bằng chứng) hay bổ sung những khoảng trống trong hiệp định hay trên thực địa. Một khía cạnh kỹ thuật khác cũng dẫn đến sự lúng túng trong việc đánh giá giá trị của hiệp định biên giới, chẳng hạn như hiệp ước ký kết không đúng thẩm quyền hay bị ép buộc. Khi áp dụng học thuyết này, để hạn chế sự bất đồng hay xung đột cần phải tính đến tất cả các khía cạnh liên quan dựa tên cơ sở những nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế, bao gồm quyền dân tộc tự quyết, các lợi ích thỏa hiệp và sự đồng thuận.

N.M.H

 



[1] Shaw, “The Principle of Uti Possidetis Juris” 67 (1996) BYIL. tr. 81-4.

[2] The Gisbadarrna case, in AJIL, Vol. 4 (1910), p. 226.

[3] Shaw, “The Principle of Uti Possidetis Juris” 67 (1996) BYIL. tr. 81-4.

[4] The Beagle Channel, in The International Law Report, Vol. 52, p. 99.

[5] Shaw (1997), Luật quốc tế, Đại học Báo chí Cambridge xuất bản lần thứ 4, tr. 350.

[6] Anglo-Norwegian Fisheries, ICJ. Rep, 1951, p. 116.

[7] ICJ. Rep, 1962, p. 6.

[8] International Law Association (1965), Effect of Independence on Treaties, p. 363.

[9] Kaikobad, “Some Observations on the Doctrine of Continuity and Finality of Boundaries”, 54 (1983) BYIL, p. 119.

[10] Report ò the 53rd Conference (1968), p. 598.

[11] Joffe, G. “The Concept of Sovereignty and Borders in North Africa”, in C.Grundywarr (ed), International Boundaries and Boundary Conflict Resolution. IBRU, Durham 1990, pp.221-40.

[12] Joffe, G. “The Concept of Sovereignty and Borders in North Africa”, in C.Grundywarr (ed), International Boundaries and Boundary Conflict Resolution. IBRU, Durham 1990, pp.221-40.

[13] Internatinoal Law Association (1965), Effect of Independence on Treaties, p.362.

[14] Haraszti, “Treaties and Fundamental Change of Circumstances”, 146 (1975 – III0 Hague Recueil 9, Chapter V. p.65.

[15] Al-Izzi, The Shatt-al-Arab River Disputes in Terms of Law (1972), p. 102.

[16] Kaikobad, “Some Observations on the Doctrine of Continuity and Finality of Boundaries”, 54 (1983) BYIL, p.119.

[17] Rann and Kutch, International Law Report, Vol.50, p.1.

 

Đại Nam Nhất Thống toàn đồ
Bản đồ Việt Nam thời Nguyễn vẽ khoảng năm 1838, đã vẽ "Hoàng Sa", "Vạn lý Trường Sa" thuộc lãnh thổ Việt Nam, phía ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam.
Các quy định pháp lý về xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa
Bản đồ “đường lưỡi bò” được Trung Quốc cho lưu hành ở Liên hợp quốc tháng 5/2009, nhưng Trung Quốc không hề có một lời giải...
Giấy thông hành biên giới do Công an tỉnh cấp để qua lại cửa khẩu chính, cửa khẩu quốc tế công tác và thăm viếng hữu...
Kháng nghị hàng hải là văn bản do thuyền trưởng của tàu biển lập ra để công bố hoàn ảnh của tàu và những biện pháp...
Bài hát về biên giới, biển đảo
Tên bài hát: Bạch Long Vĩ đảo quê hương
Nhạc và lời: Huy Du