Không phải chỉ một vài thế kỷ gần đây, người Việt Nam mới dong thuyền ra Hoàng Sa và Trường Sa để khai thác sản vật: Phân chim giàu hàm lượng phốt phát dày hàng mét là nguồn phân bón tốt, thu nhặt tài sản của các con tàu chìm và là ngư trường đánh cá quen thuộc, mà đã từ cách đây khoảng 2000 năm, họ đã khai thác và làm chủ một vùng Biển Đông rộng lớn.

Dấu tích vỏ nhuyễn thể và xương cá trong tầng văn hóa khảo cổ trên đảo Lý Sơn.
Một điều còn ít người biết đến là trong những năm 1993, 1994 và 1999, Viện Khảo cổ học Việt Nam đã cử các nhà khảo cổ đi nghiên cứu quần đảo Trường Sa. Hồ sơ khoa học hiện lưu tại Phòng Tư liệu còn cho thấy: Kết quả khai quật 50 mét vuông tại đảo Trường Sa lớn đã thu được khá nhiều hiện vật. Đáng lưu ý là có nhiều mảnh gốm thô mang đặc trưng gốm của văn hóa Sa Huỳnh. Bên cạnh đó có cả đồ gốm mang yếu tố truyền thống “gốm Sa Huỳnh-Kalanay” mà nhà khảo cổ học Mỹ W. Solheim đã có nhiều khảo cứu về dòng gốm này với những mối quan hệ xuyên Biển Đông giữa miền Trung Việt Nam và miền Đông Phi-líp-pin. Cách đây vài năm, các nhà khảo cổ trong và ngoài nước lại khá thống nhất với nhau là nhiều cổ vật 2000 năm giữa ta và vùng quần đảo này giống nhau một cách lạ lùng, chỉ có thể do giao lưu văn hóa mà có. Đó là một loại bình gốm khá đẹp mà phần thân có 8 núm nhô ra, như núm vú người phụ nữ, biểu hiện cao độ của vẻ đẹp phồn thực.
Có khả năng chính người Sa Huỳnh đã băng qua Biển Đông, để lại dấu tích của mình không những ở đảo Trường Sa lớn, mà còn ở một số đảo của Phi-líp-pin nữa. Khả năng này lại có sức thuyết phục, khi mà sản vật độc đáo của văn hóa Sa Huỳnh là khuyên tai hai đầu thú và khuyên tai ba mấu nhọn bằng đá tìm được ở ngay hang Tabon của quốc đảo này. Người Sa Huỳnh đến được Trường Sa và vùng quần đảo Phi-líp-pin là nhờ đi biển rất giỏi, dựa vào các dòng hải lưu và lựa theo các cơn gió mùa. Họ cũng là cư dân có mặt tại vùng biển Nam Thái Lan và để lại khuyên tai hai đầu thú ở vùng đất này. Chính người Chăm, hậu duệ của cư dân Sa Huỳnh đã thừa hưởng được tài đi biển này mà giao thương ngang dọc Biển Đông, tới cả vùng quần đảo In-đô-nê-xi-a.
Với những bằng chứng khảo cổ mới đây, thì có thể văn hoá Sa Huỳnh cũng đã có giao lưu với miền Đông Ấn Độ. Một số hội nghị khảo cổ học trong khu vực đã có những chuyên luận đề cập đến vấn đề này. Các nhà khảo cổ học Ấn Độ như R. Nagaswamy, V.Selvak umar hay Mỹ như Y. A.Leonard cho rằng có một con đường giao lưu trên biển mạnh mẽ, bắt đầu từ thế kỷ III trước Công nguyên nối dài cái hành lang trên Biển Đông - Tây. Các nhà khoa học Ấn Độ cho rằng, tại một số trung tâm kinh tế, xã hội ở Ấn Độ đã sản xuất với số lượng hàng loạt hạt chuỗi bằng đá agate (mã não) và carnelian chất lượng cao từ những thế kỷ trước Công nguyên để cung cấp cho các cư dân Đông Nam Á.
Đáng lưu ý là sản phẩm hạt chuỗi, hạt cườm như vậy đã tồn tại trong nhiều địa điểm mộ chum Sa Huỳnh, như Động Cườm (Bình Định). Sự giống nhau đến ngạc nhiên của đồ trang sức chứng tỏ, do giao lưu văn hoá mà Sa Huỳnh có được và chúng ta cũng cho là chuyện bình thường vì giao lưu văn hoá phải có hai chiều. Có lẽ, con đường giao lưu đồ trang sức là con đường sớm nhất của hành lang Đông - Tây trên biển. Người Sa Huỳnh lập làng ven biển để vừa làm nông vừa khai thác hải sản, họ còn lập làng ở các đảo ven bờ nữa, mà Lý Sơn với các làng cổ Xóm Ốc, Suối Chình là một ví dụ. Hòn đảo cách bờ khoảng 30km này đã gánh trên vai sứ mạng lịch sử: Là đầu cầu cho các đoàn thuyền khai thác biển xa từ thời Sa Huỳnh, lại cũng là nơi đưa tiễn các hải đội hùng binh ra vùng đảo Hoàng Sa triều Nguyễn.
Muộn hơn thời Sa Huỳnh vài thế kỷ, cư dân Vương quốc Phù Nam, mà dấu tích còn để lại là nền văn hóa Óc Eo cũng là những cư dân giỏi khai thác biển và có những mối giao lưu buôn bán với nhiều vùng xa xôi bằng con đường biển. Theo các nhà khảo cổ, trung tâm lớn nhất của Vương quốc này chính là ở vùng đất mà nay có địa danh hành chính là trên cánh đồng chân núi Ba Thê, xã Vọng Khê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Nếu soi vào thư tịch cổ, như sách Lương Thư còn chép lại: Phù Nam ở phía Tây Nam Lâm Ấp (tức Chăm-pa) cách 3.000 dặm. Kinh thành cách biển 500 dặm. Trong nước ấy có con sông lớn rộng 10 dặm, chảy theo hướng Tây Bắc sang phía Đông đổ ra biển. Diện tích cả nước rộng hơn 3.000 dặm. Đất đai nước ấy thấp và bằng phẳng.
Đối chiếu với địa lý, rõ ràng Phù Nam chính là đất nước của cư dân cổ đại Nam Bộ, con sông nói đến là sông Cửu Long, vùng đất thấp và bằng phẳng chính là đồng bằng sông Cửu Long của chúng ta. Điều này còn được khẳng định qua công sức của các nhà khảo cổ học, bắt đầu từ học giả người Pháp L.Malleret với tác phẩm “Khảo cổ học châu thổ sông Cửu Long” xuất bản năm 1959 cho đến các nhà khảo cổ Việt Nam mới đây. Đó là việc xác lập thành công một nền văn hóa vật chất làm nền tảng cho Vương quốc Phù Nam, chính là văn hóa Óc Eo.
Vậy là, với văn hóa Óc Eo làm cơ tầng cho Vương quốc Phù Nam, chúng ta có quyền tự hào rằng một thời vùng đồng bằng sông Cửu Long đã lóe sáng một nền văn minh rực rỡ. Cư dân Nam Bộ khi đó có mối giao lưu với cả văn minh Ấn Độ và xa hơn nữa là văn minh La Mã, Trung Đông. Dĩ nhiên là bằng con đường ven biển. Có thể nói không ngoa rằng, Vương quốc Phù Nam là Vương quốc biển, nếu như chúng ta thấy được khá nhiều cổ vật phương xa đọng lại trong nền văn hóa này: Từ những dây chuyền vàng, nhẫn vàng nạm ngọc, khắc chữ cổ, vòng tay xoắn trông khá bắt mắt và kiểu dáng khá “hiện đại” cho đến những lá vàng dập nổi hình mặt người. Người Phù Nam ưa làm đẹp bằng vàng, bạc, đúng như mấy dòng sử cũ còn ghi lại: Dân Phù Nam làm nhẫn và vòng tay bằng vàng và chén đĩa ăn bằng bạc (sách Nam Tề Thư).

Bình gốm trang trí hình 8 núm vú ở di chỉ Hòa Diêm giống với bình của cư dân Phi-líp-pin.
Khuyên tai Sa Huỳnh có mặt tại ven biển U Thong, Thái Lan.
Nói đến vấn đề tổ tiên chúng ta làm chủ và khai thác Biển Đông, không thể không đề cập đến cư dân Đông Sơn ở miền Bắc nước ta, cái nôi của người Việt cổ. Các nhà khoa học thế giới đều công nhận văn hóa Đông Sơn là nền văn hóa nổi trội nhất ở Đông Nam Á cách đây khoảng hơn 2000 năm. Đó là những người làm nông và đúc đồng cực giỏi. Nhưng họ cũng là cư dân đi biển và khai thác biển thành thạo. Nhiều người cho rằng một số loại thuyền được khắc họa trên tang trống Đông Sơn là thuyền đi biển, vì chứa được nhiều người, lại có cả lầu thuyền. Bằng chứng rõ rệt nhất việc người Đông Sơn đánh bắt hải sản xa bờ là các giáo đồng, rìu đồng được phát hiện dưới đáy biển ở khu vực Vũng Áng. Có thể trong một chuyến ra khơi, người Đông Sơn đã làm rơi công cụ và vũ khí của mình hay cũng có thể là một chiếc thuyền xấu số nào đó bị chìm mà để lại dấu tích của đồ đồng Đông Sơn dưới đáy biển chăng?
Các nhà khoa học Pháp trước đây đã liên tưởng đến những ngôi nhà sàn của người Toraja của vùng quần đảo In-đô-nê-xi-a khá giống với những chiếc nhà sàn khắc họa trên mặt trống Đông Sơn. Đó là loại nhà sàn mái cong, có hình thang lộn ngược với hai đầu hồi vươn ra khá rộng. Với những tài liệu khảo cổ vài chục năm gần đây, sự liên tưởng đó hoàn toàn có lý, khi mà con đường biển giao lưu giữa hai vùng miền Bắc nước ta và vùng quần đảo này được chứng minh rõ rệt. Nhiều trống đồng Đông Sơn của ta đã theo chân người Việt cổ đến khá nhiều đảo của In đô nê xia. Hầu như các đảo lớn đều có mặt trống Đông Sơn điển hình.
Men theo bờ biển, cư dân Đông Sơn đã để lại dấu tích của mình khá đậm nét ở các vùng biển miền Trung, khi đó còn là địa bàn của người Sa Huỳnh. Đậm nét nhất là vùng cửa sông Trà Bồng, nơi có khu mộ Gò Quê với những giáo, rìu, dao găm, tấm che ngực của văn hóa Đông Sơn lại được chôn trong những mộ táng bằng chum gốm điển hình của cư dân Sa Huỳnh. Người Đông Sơn còn đi ngược các cửa sông vào sâu trong đất liền. Họ còn để lại những mộ táng dùng trống đồng làm quan tài để chôn người quá cố cùng với đồ tùy táng là đồ đồng Đông Sơn như trường hợp ở hòn đảo Lại Sơn ngoài biển thuộc địa phận tỉnh Kiên Giang.
Người Đông Sơn còn mang trống đồng đến các vùng biển xa hơn như Thái Lan và Ma-lay-xi-a. Về phía Bắc, họ cũng mang sản vật độc đáo của mình là trống đồng minh khí đến tận cửa sông Trường Giang, Trung Quốc nữa. Khi khai quật khu mộ Thượng Mã Sơn ở tỉnh Triết Giang, trong một ngôi mộ có niên đại cách đây gần 2000 năm, bên cạnh những đồ tùy táng bản địa, các nhà khoa học Trung Quốc đã gặp chiếc trống minh khí này và coi là sản phẩm do giao lưu văn hóa mà có.
Với những bằng chứng khảo cổ học, chúng ta có thể khẳng định rằng cư dân cổ đại nước ta, ở cả ba miền đều là cư dân biết khai thác và làm chủ Biển Đông. Biển không những là nguồn thực phẩm phong phú, nguyên liệu vỏ sò ốc để chế tác đồ trang sức mà còn là những con đường giao thương cực kỳ quan trọng.
PGS.TS Trịnh Sinh
Theo bienphong.com.vn