
Cột cờ Lũng Cú. Ảnh: KHẮC HƯỜNG
Trong cuộc đời của mỗi người, được đặt chân đến những vùng đất thiêng của Tổ quốc là một niềm hạnh phúc lớn lao. Ðó có thể là đỉnh Lũng Cú - điểm cao nhất của cực bắc Việt Nam, là Mũi Cà Mau - mũi tàu ta đó, hoặc những hòn đảo trên quần đảo Trường Sa. Và chỉ khi ở đó, chúng ta mới thật sự cảm nhận sâu sắc nhất sự thiêng liêng và niềm kiêu hãnh của hai tiếng: Tổ quốc.
Ðỉnh Lũng Cú- Ðất Rồng linh thiêng
Ðứng ở ngọn núi cao nhất của khu vực hình chóp nón trên bản đồ Việt Nam, dưới chân cột cờ Lũng Cú, thấy mỗi làn gió đều tràn đầy niềm kiêu hãnh về đất mẹ Việt Nam, thấy mỗi ngọn núi đều tấu vang giai điệu tráng ca về lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc với biết bao huyền thoại...
Ðỉnh Lũng Cú, thuộc xã Lũng Cú, huyện Ðồng Văn, tỉnh Hà Giang. Ngọn núi này có độ cao khoảng 1.700 m so với mực nước biển. Ðây là một điểm nhỏ nằm trên đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Nếu mô phỏng một cách tương đối hình dạng đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc thành một chóp nón thì hai điểm thấp nhất theo kinh độ là Tây Trang, Ðiện Biên và Sa Vĩ, Móng Cái. Còn Lũng Cú là đỉnh của chóp nón này, cũng là điểm cao nhất của cực bắc Việt Nam.
Ðứng dưới chân cột cờ quốc gia, nghe những cách lý giải về hai chữ Lũng Cú cũng đã thấy bao điều thú vị. Có người nói đó là cách gọi theo tiếng quan hỏa của hai chữ Long Cư, có nghĩa là nơi rồng ở.
Cũng có người kể rằng tại địa điểm dựng Ðồn Biên phòng Lũng Cú, từ thời Tây Sơn sau khi đại thắng quân xâm lược phương bắc, Hoàng đế Quang Trung đã cho đặt một chiếc trống đồng rất lớn và cứ mỗi canh giờ trống lại được gióng lên ba hồi vang xa như để khẳng định chủ quyền đất nước. Chính vì thế, Lũng Cú khi đọc chệch âm sang âm tiếng Mông là Long Cổ, tức trống của Vua, và người Mông tại nơi đây hầu như đều biết đánh trống đồng. Một cách lý giải khác, Lũng Cú là cách đọc chệch của từ Lũng Cừu, theo ngôn ngữ của người Mông thì có nghĩa là Lũng Ngô, bởi cánh đồng Thèn Pả lớn nhất ở Lũng Cú có rất nhiều ngô, quanh năm xanh tốt. Có người nói Lũng Cú là tên người đứng đầu một dòng họ dân tộc Lô Lô, có công khẩn hoang, gìn giữ và phát triển vùng đất này.
Vùng đất Lũng Cú từ xa xưa vẫn luôn được các triều đại phong kiến coi là một trong những vùng đất tiền đồn có vai trò quan trọng ở phía bắc. Có sử liệu chép rằng, Thái úy Lý Thường Kiệt đã có lần hội quân lớn ở địa điểm này, nhằm biểu dương sức mạnh và ý chí bảo vệ bờ cõi và ông là người đầu tiên cho dựng cột cờ bằng cây sa mộc ở khu vực này. Câu chuyện Hoàng đế Quang Trung đặt trống ở đây cũng là một cách khẳng định chủ quyền đất nước. Năm 1997, triều đình Mãn Thanh (Trung Quốc) và thực dân Pháp dựng cột mốc 17 ở thôn Séo Lùng để phân định biên giới Việt - Trung. Tháng 3 năm 1961, khi cuộc tiễu phỉ ở Ðồng Văn vừa kết thúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tới thăm và làm việc tại Hà Giang.
Câu chuyện dựng cột cờ Tổ quốc ở Lũng Cú cũng đầy hào sảng. Vào dịp Tết năm 1977, nhân dân 19 xã trong huyện Ðồng Văn nô nức ra quân làm 13 km đường, bắt đầu từ xã Ma Lé. Nhằm bảo đảm tiến độ thi công, huyện giao định mức cho mỗi xã làm 800 mét đường, xã lại giao định mức cho mỗi hộ dân làm từ hai đến bốn mét. Vậy là toàn dân Ðồng Văn đổ lên Ma Lé. Mỗi gia đình chỉ để lại người già và trẻ con ở lại giữ nhà, còn tất cả đều gùi cuốc xẻng, quần áo, lương thực ra bám đường. Từng nhà dựng một chòi canh ngay sát khu vực làm đường mà mình được phân công, làm ngày làm đêm không nghỉ. Ðoạn đường của nhà này dần nối với đoạn đường nhà kế bên. Nhà nhà thi đua miệt mài suốt gần hai tháng ròng như thế để thông xe vào ngày 14/8/1978.
Trước đây trên đỉnh núi Rồng có cắm một lá cờ, nhưng nhỏ. Ðể bà con khắp nơi về dự lễ thông xe có thể nhìn thấy lá cờ, huyện chỉ đạo xã Lũng Cú chọn ra 20 thanh niên khỏe mạnh nhất vào rừng tìm chặt một cây thông cao gần 20 mét, đường kính 20 phân để làm cột cờ. Lá cờ chiều dài chín mét, rộng tám mét theo một tỷ lệ hết sức phù hợp trong hội họa, khi kéo lên rất đẹp, lại có diện tích 54 m2, tượng trưng cho 54 dân tộc anh em sống trên dải đất hình chữ S càng thêm ý nghĩa thiêng liêng. Hiện nay tại Ðồn Biên phòng Lũng Cú có một trạm chuyên làm nhiệm vụ bảo vệ lá cờ trên Cột cờ Lũng Cú này và hầu như cứ khoảng một tuần hoặc lâu nhất là 10 ngày cờ lại phải được thay mới, do sức gió trên đỉnh Lũng Cú rất mạnh khiến cờ dễ hư hỏng.
Vào những năm 1992, 2000 và 2002 cột cờ tiếp tục được trùng tu hoặc xây dựng lại nhiều lần với kích thước, quy mô lớn dần theo thời gian. Gần đây nhất, để cột cờ Lũng Cú xứng đáng là niềm kiêu hãnh của quân và dân cả nước, năm 2010 đúng dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Hà Giang đã nâng cấp cột cờ Lũng Cú với kinh phí đầu tư gần 21 tỷ đồng, mô phỏng theo cột cờ Hà Nội. Cột cờ mới có chiều cao 33,15 m (hơn cột cờ cũ 10 m), trong đó phần chân cột cao 20,25 m, đường kính ngoài thân cột rộng 3,8 m. Cột cờ được thiết kế hình bát giác, chân, bệ cột cờ có tám mặt phù điêu bằng đá xanh mô phỏng hoa văn mặt của trống đồng Ðông Sơn và những họa tiết minh họa các giai đoạn qua từng thời kỳ lịch sử của đất nước, cũng như con người, tập quán của các dân tộc ở Hà Giang. Ðường lên đỉnh núi cột cờ được xây lại gồm 283 bậc lên theo lối cũ, đồng thời xây mới thêm 283 bậc đi xuống (trước đây chỉ có một đường lên). Thân cột cờ mới có hệ thống thang bộ lên đỉnh.
Ðứng ở chân cột cờ, phóng tầm mắt bao quát ra một vùng biên cương rộng lớn của Tổ quốc Việt Nam. Con sông Nho Quế uốn lượn phân chia ranh giới Việt - Trung, núi non trùng điệp xen kẽ bởi những khoảnh ruộng bậc thang tạo nên một vẻ đẹp rất hoang sơ, đặc trưng của vùng Tây Bắc địa đầu của Việt Nam. Dưới thung lũng, bản làng người Mông, Lô Lô, Tày, Pu Péo... ấm áp tỏa khói lam chiều. Ðặc biệt, giữa miền khô khát bậc nhất cực bắc của Tổ quốc, nằm giữa những nếp nhà bình yên của hai thôn Lô Lô Chải và Thèn Tả có hai hồ nước trong xanh, quanh năm không bao giờ cạn. Hai hồ nước cách nhau khoảng 200 mét ngay dưới chân núi được ví như đôi mắt rồng với diện tích mặt hồ lên đến hàng nghìn mét vuông, từ lâu đã được coi là nguồn sống và một biểu tượng của Cao nguyên đá. Ðiều khó tin nhất là ở độ cao khoảng 1.400 m so với mực nước biển mà hai hồ nước không bao giờ cạn. Ngay cả con sông Nho Quế nước cuồn cuộn chảy cũng gần như cạn kiệt vào mùa khô. Theo các cụ cao niên trong Làng văn hóa Lô Lô Chải và thôn Thèn Tả thì sở dĩ hai hồ nước không bao giờ cạn vì đây là đôi mắt của rồng tiên để lại, khi hồ nước vơi đi ít nhiều thì lại có những trận mưa cấp nước cho hồ.
Ðôi mắt Rồng huyền thoại là một trong những nét độc đáo của Công viên địa chất cao nguyên đá Ðồng Văn - công viên địa chất đầu tiên của Việt Nam, thứ hai ở khu vực Ðông - Nam Á. Ðiều đặc biệt là trên đường leo lên Cột cờ Lũng Cú có một tảng đá lớn lưu giữ lại hóa thạch Bọ Ba Thùy, có niên đại hơn 5 triệu năm, được phát hiện trong đá vôi hệ tầng Chang Pung. Ðây là hóa thạch cổ nhất của công viên địa chất cao nguyên đá Ðồng Văn, minh chứng về một quá trình kiến tạo kéo dài hàng triệu triệu năm của thổ nhưỡng cao nguyên đá độc đáo này.
Ðất Mũi nên thơ và đẹp giàu
Ðất Mũi Cà Mau là vùng đất cực nam của Tổ quốc, được khai phá vào cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18. Ðứng trên Vọng hải đài cao chừng 20 mét, giữa đất và trời hoang sơ, ngắm nhìn những cánh hải âu chao liệng trên những vùng đất phù sa màu mỡ có những khu rừng ngập nước quanh năm; những gốc cây đước rễ chùm gân guốc như những chiếc nơm nhỏ, như những bàn tay đan lấy bàn tay ôm bám lấy đất mẹ, để giữ cho đất nở, để mũi thuyền đất nước mãi tiến xa thêm vào lòng biển...
Rất nhiều du khách có mặt ở đây, người từ Hà Nội vào, người từ miền trung tới, người ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long sang, đều chung một nỗi bồi hồi, xúc động vì được đặt chân tới mảnh đất tận cùng của Tổ quốc. Ai cũng cố có một tấm ảnh chụp lưu niệm bên tấm đá lớn mầu đỏ ghi dòng chữ: Mốc tọa độ Quốc gia - điểm tọa độ GPS 001.
Biển ở đây "có bồi có lở", đặc biệt là khu vực phía đông mũi Cà Mau. Nhưng những năm gần đây do triều cường đột ngột tăng cao, rừng phòng hộ ven biển bị xâm phạm, rồi khi xây dựng khu du lịch, người ta đã đưa cơ giới vào đào xới, lấy cát từ các bãi bồi lắng. Ðiều này đã tác động xấu vào tiến trình diễn thế của tự nhiên, nên mức xói lở ngày càng nghiêm trọng... Tỉnh Cà Mau vừa lập dự án xây dựng hệ thống kè kiên cố chống sạt lở ở khu vực mũi Cà Mau, với nguồn kinh phí gần 200 tỷ đồng, nhằm tạo bãi bồi, khôi phục và trồng mới rừng phòng hộ. Trong đó, có giải pháp "sống chung với sóng" vừa thúc đẩy sự bồi lắng, vừa giữ đất...
Ðất Mũi mời gọi du khách và con đường về với Ðất Mũi giờ đây đã thuận tiện hơn, khi sáu cây cầu trên tuyến quốc lộ 1A đoạn Ðầm Cùng - Năm Căn và tuyến đường bộ Khai Long - Ðất Mũi đã hoàn thành. Giao thông thông suốt sẽ góp phần tạo nên diện mạo mới cho vùng đất mũi Cà Mau, tạo động lực lớn cho Cà Mau và cả vùng đồng bằng sông Cửu Long cất cánh, vươn mình phát triển ra biển...
MAI HỒNG
Theo nhandan.com.vn