Theo GS Ngô Đức Thịnh - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, Nghệ Tĩnh là ranh giới phân dải văn hoá ven biển thành hai phần nam - bắc. Bộ phận từ Nghệ Tĩnh đến Móng Cái thì cư dân chưa có ý thức khai thác triệt để nguồn lợi biển khơi, chỉ hướng ra biển một nửa, phần gắn bó với đồng ruộng vẫn chiếm ưu thế.

Đoàn kết để cùng khai thác biển khơi là một nét ứng xử,
một truyền thống của các ngư dân
Bộ phận từ Nghệ Tĩnh trở vào, nhất là từ Ninh Thuận đến Cà Mau, cái nhìn của cộng đồng người Việt với biển ngày càng rõ nét. Theo GS. TSKH Trần Ngọc Thêm, dải văn hoá nước ta được phân định theo chỉ số đặc trưng tiệm biển: Văn hoá Bắc Bộ là văn hoá sông nước; Văn hoá Trung Bộ là văn hoá biển cả và Văn hoá Nam Bộ là văn hoá sông nước và biển cả.
Yếu tố biển phủ lên mạnh mẽ trên diện mạo văn hoá Trung Bộ. Từ Thanh Hoá, các dãy núi có xu thế tiến sát ra biển, chất biển trong văn hoá đã bắt đầu mặn mòi hơn trước. Cả dải đất miền Trung dằng dặc nằm ở địa thế kẹp núi và sơn nguyên ở phía Tây, biển ở phía Đông. Theo chữ dùng của GS Trần Quốc Vượng "đường bờ biển miền Trung ưỡn cong, lồi ra phía Biển Đông”. Vượt qua Đèo Ngang (thuộc huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh), người Việt đã không còn "nhạt biển”. Thống kê trong ca dao trữ tình Nam Trung Bộ, hình tượng sông nước xuất hiện 2149 lần trong đó "biển” xuất hiện 192 lần.
Lịch sử khai thác lãnh thổ đặt người Việt ở thế trước biển, đối mặt với biển. Mặc dù e ngại tiến ra khơi xa nhưng môi trường mới buộc con người phải thích ứng. "Hải tính” trong tâm thức người Việt đậm dần, cuộc sống của họ ngày một thiết tha hơn với biển. Người Việt một lần nữa lại thể hiện sự linh hoạt của mình trong thế ứng xử với thiên nhiên. Biển hiện hữu trong tâm thức ngư dân suốt chu kì một đời người.
Biển vừa là nguồn sống, vừa là nơi kí gửi biết bao tâm tư tình cảm của cộng đồng. Hình tượng biển gắn bó với con người từ khi sinh ra đến khi từ biệt cõi trần.
Lúc con còn nhỏ thì người ta khuyên con: "Lắng tai nghe mẹ giãi bày/ Cha sinh mẹ dưỡng sánh tày bể Đông”. So sánh công ơn cha mẹ không gì rõ hơn bằng cách đặt tương quan với độ mênh mông, rộng lớn của biển cả.
Đến khi lớn lên, nam nữ yêu thương nhau gắn bó bởi lời thề son sắt, thuỷ chung: "Bao giờ sóng mới bỏ gành/ Cù lao bỏ bể thì anh mới bỏ nàng” Hay "Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn/ Núi lở, non mòn nghĩa bạn không mòn”. Lời thề chỉ non hẹn biển trở thành một kết cấu quen thuộc trong ca dao: "Lời thệ hải minh sơn như thế/ Chữ lương duyên túc đế từ lâu”.
Cuộc sống ra lộng vào khơi tuy vất vả nhưng ngày càng nhộn nhịp bởi các làng ven biển, các vạn chài với khung cảnh sản xuất, sinh hoạt gia đình đầm ấm: "Cha chài, mẹ lưới, con câu/ Chàng rể cất vó, con dâu ngồi mò”.
Lúc người phụ nữ vượt cạn, biển là ẩn dụ cực tả nỗi nguy hiểm của người phụ nữ: "Đàn ông đi biển có đôi/ Đàn bà vượt cạn mồ côi một mình”.
Đến khi lìa khỏi cõi đời, cư dân biển quan niệm linh hồn họ sẽ được đưa về biển cả mênh mông bằng điệu hò đưa linh: "Hò hò đưa linh/ Đưa linh phản hồi/ Ai đưa chim nhạn về chốn bể bắc/ Không cho chim nhạn về chốn non Đoài”.
Qua những ví dụ trên có thể minh chứng cho sự tồn tại thậm chí còn có phần đậm nét của văn hoá biển trong thế ứng xử của người Việt. Những câu ca dao vừa trích dẫn phần lớn là của vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, nơi cư dân có tâm lí ngại ngùng trước biển nhưng văn hoá lại là một yếu tố khó kiểm soát. Một cách vô thức, yếu tố biển góp phần kiến tạo nên tâm hồn dân tộc.
Càng tiến vào sâu trong mảnh đất phía Nam, tính biển và thiên hướng biển của người Việt lại ngày càng rõ nét. Khi còn ở dải đất miền Trung dài dằng dặc, họ đã tiếp nhận truyền thống hướng biển của người Chămpa để khi vào đến Nam Bộ, cái nhìn của họ về biển sâu sắc nhiều hơn trước. Người Nam Bộ không có cái nhìn thành kiến với nghề buôn, việc thông thương bằng đường biển do đó có nhiều cơ hội mà phát triển: "Đạo nào vui bằng đạo đi buôn/ Xuống biển, lên nguồn gạo chợ nước sông”.
Lối sống phóng khoáng của người Nam Bộ là sự thể hiện đậm nét chất sóng gió biển khơi: "Biển sâu con cá lớn vẫy vùng/ Trời cao muôn trượng cánh chim hồng tung bay”.
Một trong những đặc trưng trong tính cách người Việt là cách nói bộc trực, thẳng thắn mà dân gian vẫn quen gọi là "ăn sóng nói gió”. Và chỉ có ở Nam Bộ chúng ta mới bắt gặp những câu khoan hò hào sảng giữa mênh mông biển trời: "Gió lên rồi căng buồm cho khoái/ Gác chèo lên ta nướng khô khoai”.
Tính biển đã được giải thoát khỏi những ràng buộc vùng đồng chiêm trũng. Nếu như Bắc Bộ, khai thác nông nghiệp là ngành nghề truyền thống, lịch sử tộc người bắt nguồn từ núi thì ở khu vực phía Nam nơi có lịch sử khai thác muộn hơn, ngay từ khi đặt chân đến người Việt đã tiếp xúc với biển. Có lẽ bởi thế mà độ đậm biển trong dải văn hoá duyên hải tăng tiến theo chiều dọc chăng?
Q.Chính - H.Trang
Theo daidoanket.vn