Giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ của Việt Nam: Kết quả và bài học kinh nghiệm

13/09/2021 15:24

Việc giải quyết dứt điểm vấn đề chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia với các nước có liên quan là một trong những ưu tiên trong đường lối đối ngoại và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và Nhà nước ta.

 

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Vương quốc Campuchia Samdech Techo Hun Sen chứng kiến Lễ ký Nghị định thư Phân giới cắm mốc biên giới đất liền giữa nước CHXHCN Việt Nam và Vương quốc Campuchia, ngày 5/10/2019. (Nguồn: TTXVN)

Là một quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á và tiếp giáp Biển Đông, Việt Nam vừa có biên giới trên đất liền, vừa có vùng biển chồng lấn với các quốc gia láng giềng. Đồng thời, việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang đứng trước những thách thức mới và đặt ra những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp.

Do đó, việc giải quyết dứt điểm vấn đề chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia với các nước có liên quan là một trong những ưu tiên trong đường lối đối ngoại và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và Nhà nước ta.

Đối với mọi quốc gia, lãnh thổ quốc gia luôn đóng vai trò là cơ sở vật chất cho sự tồn tại của quốc gia, có giá trị thiêng liêng và bất biến. Cùng với đó, lãnh thổ quốc gia cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong mối quan hệ giữa các quốc gia, góp phần tạo dựng và thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các nước láng giềng, trật tự pháp lý quốc tế, hòa bình và ổn định.

Lãnh thổ quốc gia, hiểu một cách đơn giản nhất, là một phần của không gian Trái đất, bao gồm vùng đất, vùng nước, vùng trời và lòng đất thuộc chủ quyền hoàn toàn, riêng biệt và tuyệt đối của một quốc gia.

Dưới góc độ luật pháp quốc tế, lãnh thổ quốc gia là một trong bốn yếu tố cấu thành một quốc gia. Chính vì vậy, luật gia nổi tiếng người Anh Oppenheim đã từng nhấn mạnh: “Không có lãnh thổ quốc gia thì không có nhà nước”.

Phạm vi không gian lãnh thổ của một quốc gia được xác định và giới hạn bởi hệ thống đường biên giới của quốc gia đó với các quốc gia láng giềng, hoặc các khu vực lãnh thổ có quy chế quốc tế.

Biên giới quốc gia được xác định là hàng rào pháp lý xác định giới hạn vùng đất, vùng nước, vùng biển, vùng trời và lòng đất thuộc chủ quyền quốc gia; là nơi phân chia chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia với một quốc gia khác, hoặc khu vực có quy chế pháp lý quốc tế.

Điều 1 trong Luật Biên giới quốc gia của Việt Nam năm 2003 xác định: “Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Một số thành tựu quan trọng trong giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ của Việt Nam

Về giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền

Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, Lào ở phía Tây, Campuchia ở phía Tây Nam và đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng này đã được hình thành và tồn tại từ lâu trong lịch sử cùng với tiến trình phát triển quan hệ với các nước này.

Tuy nhiên, đường biên giới vào thời điểm đó chủ yếu mang tính chất tập quán, dựa theo ranh giới hành chính của các điểm dân cư, sử dụng các yếu tố tự nhiên, như dãy núi, sông suối... và là đường biên giới theo vùng hơn là một đường biên giới được hoạch định, phân giới và cắm mốc(6), thể hiện trên bản đồ như trong giai đoạn sau này khi thực dân Pháp chiếm đóng Đông Dương và ký kết hàng loạt điều ước về biên giới.

Một là, đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Ngày 30/12/1999 ghi nhận một dấu mốc trọng đại trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, đó là việc Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm và Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Đường Gia Triền ký kết Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc, kết thúc tiến trình đàm phán giữa hai nước trong nhiều thập niên về vấn đề này. Hiệp ước là cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng để hai bên tiến hành công tác phân giới, cắm mốc trên thực địa(7).

Tháng 11/2000, sau khi Hiệp ước có hiệu lực, Việt Nam và Trung Quốc đã chính thức thành lập “Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc” và 12 Nhóm liên hợp phân giới cắm mốc, để triển khai công tác này trên thực địa.

Sau hơn một năm chuẩn bị các nội dung cần thiết cả về mặt pháp lý, kỹ thuật, nhân lực và vật lực, ngày 27/12/2001, tại cửa khẩu quốc tế Móng Cái (Việt Nam) - Đông Hưng (Trung Quốc), Việt Nam và Trung Quốc đã cắm cột mốc đầu tiên giữa hai nước, mang số hiệu 1369, đánh dấu việc triển khai công tác này trên toàn tuyến biên giới đất liền giữa hai nước.

 

Ngày 23/8/2020, tại TP. Móng Cái (Quảng Ninh), Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh cùng Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị đồng chủ trì hoạt động kỷ niệm 20 năm ký Hiệp ước Biên giới và 10 năm triển khai văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc. Trong ảnh: Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh cùng Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị tham quan cột mốc 1369 phía Việt Nam tại khu vực cầu Bắc Luân I - cột mốc biên giới đầu tiên được cắm trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc vào ngày 27/12/2001.

Tiếp đó, ngày 31/12/2008, Việt Nam và Trung Quốc đã ra Tuyên bố chung về việc hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc trên biên giới đất liền giữa hai nước. Với kết quả trên, đường biên giới Việt Nam và Trung Quốc dài 1.449,56km, trong đó có 383,914km đi theo sông, suối, đã được cắm 1.971 cộc mốc, bao gồm 1.548 mốc chính và 422 mốc phụ.

Đồng thời, hai bên đã ký kết Nghị định thư phân giới cắm mốc, Hiệp định về quy chế quản lý biên giới, Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu biên giới trên đất liền (tháng 11/2009). Các văn kiện này chính thức có hiệu lực từ năm 2010.

Ngoài ý nghĩa xác định rõ ràng một đường biên giới giữa hai nước, các hiệp định còn tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành chức năng của cả hai bên tiến hành quản lý biên giới một cách hiệu quả, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của nhau, mở ra cơ hội mới cho công cuộc phát triển của mỗi nước, tạo điều kiện cho các địa phương hai bên biên giới mở rộng hợp tác, phát triển kinh tế, tăng cường giao lưu hữu nghị(8) và đưa đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc trở thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển.

Hai là, đường biên giới trên đất liền Việt Nam và Lào.

Đường biên giới đất liền giữa Việt Nam - Lào dài 2.337,459km, chạy qua 10 tỉnh của Việt Nam và 10 tỉnh của Lào với địa hình hết sức phức tạp, hiểm trở(9), được hình thành từ trong lịch sử và thể hiện trên bản đồ do người Pháp xuất bản dưới chế độ thuộc địa.

Tuy nhiên, đường biên giới này vẫn còn nhiều điểm chưa thực sự rõ ràng và không phải là kết quả do hai quốc gia độc lập, có chủ quyền xác định. Do đó, năm 1975, sau khi nước Việt Nam thống nhất và Lào chính thức thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, hai bên đã nhất trí tiến hành giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước.

Xuất phát từ quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, thiện chí giữa hai nước, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, sau hơn hai năm đàm phán, ngày 18/7/1977, Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đã được ký kết tại thủ đô Vientiane (Lào).

Năm 1978, Việt Nam và Lào bắt đầu triển khai công tác phân giới, cắm mốc trên thực địa và hoàn thành vào năm 1984. Kết quả của công tác này được ghi nhận trong Nghị định thư ngày 24/1/1986 về việc phân giới trên thực địa.

Theo Nghị định thư, hai bên đã phân giới được 1.877km trong tổng số hơn 2.000km chiều dài của đường biên giới và cắm được 202 mốc quốc giới.

Đồng thời, xuất phát từ thực tế quản lý biên giới, năm 1986 và 1987, hai nước đã ký Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia và Nghị định thư bổ sung ghi nhận toàn bộ kết quả công tác phân giới, cắm mốc theo hiệp ước bổ sung.

 

Cuộc họp thường niên lần thứ 30 giữa hai Đoàn đại biểu biên giới Việt Nam-Lào tại thủ đô Vientiane, Lào ngày 30/11/2020.

Kết quả nêu trên có ý nghĩa quan trọng, song hai bên vẫn phải tiếp tục giải quyết một số vấn đề còn tồn đọng, cụ thể: 1- Thành lập bộ bản đồ đường biên giới chính thức giữa hai nước thay cho bộ bản đồ của Pháp tỷ lệ 1/100.000 mà hai bên sử dụng trong hoạch định; 2-  Hoàn tất việc phân giới trên thực địa ở một số đoạn biên giới còn lại mà hai bên chưa đến được do địa hình quá hiểm trở; 3-  Khắc phục tình trạng mật độ mốc đã cắm quá thưa (bình quân trên 10km một mốc, cá biệt có những nơi gần 40km một mốc.

Trong các năm 2003, 2006 và 2007, Việt Nam và Lào đã tập trung giải quyết được các vấn đề thành lập bộ bản đồ đường biên giới chính thức giữa hai nước thay cho bộ bản đồ của Pháp tỷ lệ 1/100.000 mà hai bên sử dụng trong hoạch định và hoàn tất việc phân giới trên thực địa ở một số đoạn biên giới còn lại mà hai bên chưa đến được do địa hình quá hiểm trở; đồng thời, bắt đầu thảo luận về công tác tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới năm 2004.

Với sự nhất trí cao của hai nước, năm 2008, hai bên đã đồng loạt triển khai công tác này trên toàn tuyến và hoàn thành vào tháng 6/2013.

Sau khi hoàn thành toàn bộ công tác, hệ thống mốc quốc giới Việt Nam  - Lào bao gồm 1.002 mốc, gấp 4,5 lần so với giai đoạn trước. Toàn bộ kết quả này được ghi nhận trong Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới Việt Nam - Lào (ngày 16/3/2016).

Ba là, đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Cam-pu-chia.

Đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Campuchia dài khoảng trên 1.200km, điểm khởi đầu ở vị trí là giao điểm đường biên giới giữa ba nước Việt Nam - Campuchia - Lào, điểm kết thúc ở vị trí cuối cùng của đường biên giới đất liền trên bờ Vịnh Thái Lan tiếp giáp giữa tỉnh Kiên Giang (Việt Nam) và tỉnh Kampot (Campuchia).

Tính chất pháp lý của đường biên giới Việt Nam - Campuchia phức tạp hơn so với đường biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Trung Quốc, do vừa là đường biên giới quốc tế (phần Nam Kỳ - Campuchia), vừa là đường biên giới hành chính do chính quyền thực dân Pháp thiết lập (phần Trung Kỳ - Campuchia)(10).

Năm 1979, sau khi Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot, lập ra nước Cộng hòa nhân dân Campuchia, việc giải quyết dứt điểm vấn đề biên giới cũng là một trong những ưu tiên của hai nước.

Trên cơ sở đó, Việt Nam và Campuchia đã tiến hành ký kết Hiệp định về vùng nước lịch sử (năm 1982), Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới và Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia (ngày 20/7/1983), Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia (ngày 27/12/1985).

 

Cửa khẩu Mộc Bài (tỉnh Tây Ninh) là cửa khẩu lớn nhất phía Nam trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam-Campuchia.

Năm 1986, hai bên tiến hành phân giới, cắm mốc và trên thực tế đã triển khai cắm được 72/222 cột mốc, phân giới được 200km.

Tuy nhiên, sau đó, do tình hình chính trị nội bộ của Campuchia, vấn đề phân giới, cắm mốc giữa hai nước bị gián đoạn trong một thời gian.

Với tinh thần quyết tâm hoàn thành dứt điểm vấn đề biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia, năm 2005, hai nước đã ký kết Hiệp ước bổ sung Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 và phối hợp triển khai phân giới, cắm mốc, đạt nhiều thành tựu to lớn.

Đến nay, hai bên đã hoàn thành pháp lý hóa thành quả phân giới, cắm mốc đối với khoảng1.045km đường biên giới, tương đương 84% khối lượng trên toàn tuyến; ký kết Hiệp ước bổ sung và Nghị định thư phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền năm 2019.

Về giải quyết vấn đề phân định vùng biển chồng lấn với quốc gia láng giềng

Cùng với sự phát triển của Luật Biển quốc tế, đặc biệt là sự ra đời Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), trong đó chính thức thừa nhận chế định vùng đặc quyền kinh tế và một khái niệm rõ ràng hơn cả về mặt địa chất và pháp lý cho thềm lục địa(11) đã dẫn đến sự thay đổi đáng kể phạm vi không gian biển của các quốc gia ven biển(12) và điều này cũng kéo theo sự gia tăng nhanh chóng các vùng biển chồng lấn giữa các quốc gia láng giềng.

Theo Giáo sư Gerald Blake, Đại học Durham (Anh), cho đến cuối những năm 90 của thế kỷ XX, các quốc gia trên thế giới mới giải quyết dứt điểm hoặc một phần 150 đường biên giới biển trong tổng số 434 đường biên giới biển, chiếm 34,5% tổng số các khu vực chồng lấn biển cần giải quyết trên phạm vi toàn thế giới(13).

Đối với Việt Nam, do điều kiện đất nước tạm thời bị chia cắt đến năm 1975, Việt Nam hầu như chưa tiến hành giải quyết vấn đề phân định vùng biển với các quốc gia có liên quan.

Nắm bắt xu thế phát triển của Luật Biển quốc tế, nhất là quá trình thảo luận, xây dựng Công ước Luật Biển tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Luật Biển lần thứ ba, ngày 12/5/1977, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.

Tiếp đó, ngày 12/11/1982, Chính phủ ra tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Đây là những cơ sở và tiền đề hết sức quan trọng để Việt Nam tiến hành đàm phán giải quyết vấn đề phân định vùng biển chồng lấn với các quốc gia có liên quan trong giai đoạn sau này.

Thứ nhất, đàm phán phân định vùng biển Việt Nam - Thái Lan.

Vịnh Thái Lan là một biển nửa kín(14), nằm ở phía Tây Nam Biển Đông có diện tích khoảng 293.000km2, chu vi khoảng 2.300km, giới hạn bởi bờ biển của bốn nước, gồm: Việt Nam (230 km), Campuchia (460km), Thái Lan (1.560km) và Malaysia (150km)(15). Vịnh Thái Lan thông ra Biển Đông ở phía Nam bằng một cửa duy nhất hợp bởi mũi Cà Mau (Việt Nam) và mũi Trenggranu (Malaysia) cách nhau khoảng 400 km (215 hải lý).

Ngày 18/5/1973, Thái Lan đơn phương công bố tọa độ ranh giới thềm lục địa Thái Lan trong Vịnh, theo đó, đường ranh giới này là đường trung tuyến giữa một bên là các đảo quan trọng của Thái Lan, như Ko Phangun, Ko Samui và bờ biển Thái Lan... và bên kia là các đảo quan trọng và bờ biển của các quốc gia liên quan, như đảo Rong, Salem (Campuchia), Phú Quốc, mũi Cà Mau (Việt Nam)..., bỏ qua các đảo xa bờ, đảo Ko Kra, Ko Losin (Thái Lan), Poulo Wai (Campuchia) và quần đảo Thổ Chu (Việt Nam).

Năm 1971, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đưa ra đường phân lô dầu khí, ranh giới ngoài của đường phân lô này là đường trung tuyến được vạch giữa một bên là Hòn Khoai, Thổ Chu và Poulo Wai(16) và bên kia là bờ biển Thái Lan và đảo Ko Phangun, không tính đến các đảo đá nhỏ Ko Kra và Ko Losin (Thái Lan), tạo ra vùng biển chồng lấn giữa hai bên khoảng trên 6.000km2.

Tháng 9/1992, Việt Nam và Thái Lan bắt đầu tiến hành đàm phán phân định vùng biển giữa hai nước và hai bên kết thúc đàm phán vào năm 1997, sau 9 vòng đàm phán với việc hai bên ký Hiệp định về phân định ranh giới biển giữa hai nước vào ngày 9/8/1997 và hiệp định này chính thức có hiệu lực kể từ ngày 26/2/1998. Theo Hiệp định, hai bên giải quyết dứt điểm cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa chồng lấn, theo đó Việt Nam hưởng 32,5% diện tích khu vực chồng lần giữa hai nước.

Hiệp định phân định biển Việt Nam - Thái Lan là hiệp định phân định biển đầu tiên mà Việt Nam ký kết với các quốc gia láng giềng và cũng là hiệp định phân định biển đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á sau khi UNCLOS 1982 chính thức có hiệu lực vào năm 1994. Cùng với hiệp định này, Việt Nam và Thái Lan cũng đã có thỏa thuận về việc tuần tra chung giữa hải quân hai nước vào năm 1998, góp phần quan trọng vào việc duy trì trật tự, ổn định vùng biển giáp ranh giữa hai nước.

Thứ hai, đàm phán phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Là một trong những vịnh lớn của thế giới, Vịnh Bắc Bộ có diện tích khoảng 126.250km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310km (176 hải lý), nơi hẹp nhất ở cửa vịnh rộng khoảng 207,4km (112 hải lý)(17). Bờ biển Vịnh Bắc Bộ thuộc phía Việt Nam dài khoảng 763km và thuộc Trung Quốc dài 695km.

 

Ngày 30/6/2004, Hà Nội, diễn ra Lễ trao đổi văn kiện Thư phê chuẩn Hiệp định giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ được ký ngày 25/12/2000 tại Bắc Kinh.

Vịnh Bắc Bộ có hai cửa, gồm: eo biển Quỳnh Châu nằm giữa bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam với bề rộng khoảng 35,2km (19 hải lý); cửa chính của Vịnh kéo dài từ đảo Cồn Cỏ (Việt Nam) tới đảo Hải Nam (Trung Quốc) rộng khoảng 207,4km (112 hải lý). Phần vịnh phía Việt Nam có khoảng 2.300 đảo, đá ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền Việt Nam khoảng 110km, cách đảo Hải Nam Trung Quốc khoảng 130km. Phía Trung Quốc có một số ít đảo nhỏ ở phía Đông Bắc của vịnh, như đảo Vị Châu, Tà Dương.

Đàm phán về phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc được khởi động từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX, song qua một số vòng đàm phán diễn ra vào các năm 1974 và 1977 - 1978, hai bên chưa đạt được kết quả nào và bối cảnh quan hệ giữa hai nước sau đó không thuận lợi cho việc hai bên tiến hành giải quyết vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ.

Sau khi Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ vào năm 1991, hai nước đều có nhu cầu tiến hành đàm phán để phân định Vịnh Bắc Bộ nhằm đạt mục tiêu cơ bản và lâu dài là xác định đường phân giới rạch ròi, phân chia vùng biển(18).

Sau hơn bảy năm đàm phán thực chất, ngày 25/12/2000, Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ, theo đó về diện tích tổng thể, Việt Nam đạt 53,23% diện tích Vịnh, Trung Quốc đạt 46,77%(19), đường phân định cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý, đảo Cồn Cỏ được hưởng 50% hiệu lực.

Cùng với Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ, Việt Nam và Trung Quốc cũng ký kết Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ. Hiệp định này mới hết hạn vào ngày 30/6/2020, sau khi đã kết thúc 15 năm thời hạn và một năm gia hạn.

Thứ ba, đàm phán phân định vùng thềm lục địa Việt Nam - Indonesia. Khoảng cách giữa bờ biển hai nước Việt Nam và Indonesia khoảng 250 hải lý, do đó, theo các quy định có liên quan của luật biển quốc tế, giữa hai bên tồn tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa chồng lấn cần được giải quyết. Vùng biển chồng lấn giữa Việt Nam và Indonesia rộng khoảng 37.000km2.

Năm 1978, Việt Nam và Indonesia chính thức khởi động đàm phán phân định vùng biển chồng lấn(20) và đây cũng là một trường hợp khá đặc biệt, phân định biển giữa một quốc gia lục địa và một quốc gia quần đảo. Trong quá trình đàm phán, Việt Nam nhấn mạnh việc hai bên dựa vào các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982 cũng như các tập quán quốc tế được thừa nhận rộng rãi, có tính đến các hoàn cảnh có liên quan trong khu vực phân định như chiều dài bờ biển, sự hiện diện của các đảo nhằm đi tới một giải pháp phân định công bằng mà hai bên đều có thể chấp nhận được.

Ngày 26/6/2003, sau 25 năm đàm phán, Việt Nam và Indonesia đã ký Hiệp định phân định thềm lục địa chồng lấn giữa hai nước và hiệp định chính thức có hiệu lực từ ngày 29/5/2007. Theo hiệp định, đường phân định thềm lục địa giữa hai nước là một đường nối các đoạn thẳng có tọa độ xác định và chỉ phân định thềm lục địa giữa hai nước. Hai bên đang tiếp tục đàm phán phân định vùng đặc quyền kinh tế giữa hai nước.

Những bài học kinh nghiệm trong giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và các nước láng giềng

Có thể nói, những thành tựu đạt được trong giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ của Việt Nam mang ý nghĩa lịch sử. Nếu như trước năm 1975, đường biên giới của Việt Nam chủ yếu mang tính lịch sử thì hiện nay, toàn bộ chiều dài hơn 5.000km đường biên giới đất liền của nước ta từ tỉnh Quảng Ninh đến Kiên Giang đã được hoạch định bằng một loạt văn bản pháp lý quốc tế được ký kết giữa Việt Nam và các quốc gia láng giềng với tư cách là các quốc gia độc lập có chủ quyền.

Hơn 450 cột mốc được cắm từ những năm cuối thế kỷ XIX dưới thời thực dân Pháp giờ đây đã được thay thế bằng hệ thống hơn 5.000 mốc quốc giới chính quy, hiện đại, đánh dấu rõ đường biên giới trên bản đồ và trên thực địa, tạo thuận lợi cho việc quản lý đường biên giới cũng như thúc đẩy giao thương giữa Việt Nam và các nước láng giềng(21).

 

Đội cắm mốc đang thi công cột mốc.

Đồng thời, Việt Nam cũng linh hoạt và sáng tạo đưa ra những giải pháp đa dạng để giải quyết, xử lý các vùng biển chồng lấn góp phần khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, đồng thời tạo thuận lợi cho việc quản lý, khai thác các vùng biển và thúc đẩy hợp tác với các nước láng giềng(22). Qua quá trình này, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

Một là, nắm vững và quán triệt sâu sắc, vận dụng có nguyên tắc, linh hoạt, sáng tạo chủ trương và đường lối bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia và đường lối đối ngoại độc lập, bình đẳng, hòa bình và hợp tác phát triển trong việc giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ. Các vấn đề biên giới lãnh thổ là những vấn đề nhạy cảm, hệ trọng, liên quan đến hòa bình, an ninh và phát triển của đất nước, quan hệ giữa Việt Nam và các nước láng giềng, do đó quá trình giải quyết phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp và toàn diện của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, lãnh đạo cấp cao.

Thực tế minh chứng, Việt Nam đạt được những kết quả trên là do đã có những quyết sách đúng đắn, sự chỉ đạo, định hướng sát sao của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, lãnh đạo cấp cao, nhằm bảo đảm đàm phán đi đúng hướng mục tiêu, yêu cầu chính trị chiến lược của đất nước về lâu dài cũng như cho từng giai đoạn lịch sử cụ thể.

Hai là, việc giải quyết vấn đề chủ quyền quốc gia, biên giới, lãnh thổ có mối quan hệ khăng khít với quan hệ chính trị giữa Việt Nam và các nước có liên quan cũng như bối cảnh khu vực và quốc tế. Nhìn lại thời điểm Việt Nam và các nước láng giềng đạt được các kết quả giải quyết và ký kết các thỏa thuận về vấn đề biên giới, lãnh thổ đều là những thời điểm quan hệ giữa nước ta và các nước láng giềng có bước phát triển mới.

Do đó, việc thúc đẩy quan hệ láng giềng hữu nghị giữa Việt Nam và các nước láng giềng cũng như xác định chính xác bối cảnh tình hình khu vực và quốc tế sẽ góp phần hết sức quan trọng đối với tiến trình giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ giữa nước ta và các nước. Đồng thời, chính việc giải quyết thỏa đáng, công bằng, có cơ sở pháp lý các vấn đề biên giới, lãnh thổ cũng sẽ là động lực để thúc đẩy quan hệ giữa nước ta và các nước có liên quan.

 

Việt Nam linh hoạt và sáng tạo đưa ra những giải pháp đa dạng để giải quyết, xử lý các vùng biển chồng lấn, góp phần khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam. (Nguồn: Tạp chí Đảng Cộng sản)

Ba là, kiên trì thúc đẩy các điểm tương đồng và thu hẹp những điểm khác biệt, song kiên quyết đấu tranh, bảo vệ các quyền lợi hợp pháp, chính đáng, phù hợp luật pháp quốc tế trong quá trình giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ. Các vấn đề biên giới, lãnh thổ luôn là vấn đề nhạy cảm đối với các quốc gia do gắn liền với lòng tự hào, tâm lý, tình cảm dân tộc, do đó, quá trình giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ thường kéo dài với nhiều cuộc đàm phán ở các cấp khác nhau(23).

Vì vậy, trong việc giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ, cần tránh tư tưởng nóng vội, muốn đạt kết quả sớm, song cũng không được bỏ qua thời cơ giải quyết vấn đề.

Bốn là, việc giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ phải căn cứ và vận dụng nhuần nhuyễn các quy định có liên quan của luật pháp quốc tế vào những trường hợp cụ thể và luôn bảo đảm giải pháp cuối cùng phải phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế.

Giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ không phải là hoạt động đơn phương, áp đặt của bất cứ một bên nào mà luôn là sự thỏa thuận bình đẳng giữa các bên có liên quan, trong đó luật pháp quốc tế giữ vai trò then chốt, thể hiện ở việc vừa là căn cứ, cơ sở, công cụ, vừa là thước đo cho kết quả cuối cùng. Đây cũng chính là quan điểm của Việt Nam được thể hiện trong các Tuyên bố của Chính phủ về các vùng biển ngày 12/5/1977 (Điểm 7), Tuyên bố về đường cơ sở ngày 12/11/1982 (Điểm 6), Nghị quyết phê chuẩn UNCLOS 1982 (Điểm 4), Luật Biển Việt Nam (Điều 4).

Đồng thời, chủ trương này còn được thể hiện trong các văn bản về nguyên tắc giải quyết cơ bản vấn đề biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc (năm 1993) và trong các điều ước về biên giới, lãnh thổ...

Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị, sự phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương và tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân. Đàm phán các vấn đề biên giới, lãnh thổ liên quan đến nhiều lĩnh vực, phương diện, như luật pháp, kỹ thuật, lịch sử, chính trị - ngoại giao, thông tin tuyên truyền... và có thể tác động trực tiếp đến sự ổn định cũng như đời sống của cư dân (chủ yếu trong vấn đề biên giới trên đất liền).

Do đó, quá trình xây dựng các phương án đàm phán, giải quyết, việc phát huy sức mạnh tổng thể, việc thống nhất và đồng thuận giữa các bộ, ngành và địa phương liên quan cũng như sự ủng hộ của người dân có ý nghĩa hết sức quan trọng, qua đó bảo đảm được mục tiêu đàm phán cụ thể cũng như lợi ích quốc gia tổng thể./.

Nguồn: baoquocte.vn
Cùng chuyên mục
Xứng đáng tầm vóc cửa ngõ giao thương quan trọng trên vùng “tam giác phát triển”
Xứng đáng tầm vóc cửa ngõ giao thương quan trọng trên vùng “tam giác phát triển”

Nằm trên vùng “tam giác phát triển” 3 nước Việt Nam - Lào - Campuchia, cửa khẩu quốc tế (CKQT) Lệ Thanh thuộc xã Ia...

Đánh thức tiềm năng miền Tây xứ Nghệ
Đánh thức tiềm năng miền Tây xứ Nghệ

Miền Tây xứ Nghệ có vai trò, vị trí hết sức quan trọng. Phát triển miền Tây vững mạnh toàn diện vừa là nguyện vọng...

Tiết kiệm 3,3 tỷ USD nhờ rút ngắn thủ tục thương mại qua biên giới
Tiết kiệm 3,3 tỷ USD nhờ rút ngắn thủ tục thương mại qua biên giới

Thông tin từ Tổng cục Hải quan cho biết tổng thời gian trung bình thực hiện thủ tục thương mại qua biên giới (bao gồm...

Lào Cai hướng tới mục tiêu trở thành tỉnh phát triển của cả nước
Lào Cai hướng tới mục tiêu trở thành tỉnh phát triển của cả nước

Trải qua 30 năm tái lập, đổi mới và phát triển, tỉnh Lào Cai đã có được một diện mạo mới với tiềm lực, vị...

Quyết liệt phòng, chống dịch Covid-19 trên biên giới Việt Nam - Lào
Quyết liệt phòng, chống dịch Covid-19 trên biên giới Việt Nam - Lào

Gần 2 năm qua, kể từ ngày những chốt quản lý, bảo vệ biên giới và phòng, chống dịch Covid-19 đầu tiên được triển khai...

Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1 chung tay ngăn chặn hành vi khai thác hải sản bất hợp pháp
Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1 chung tay ngăn chặn hành vi khai thác hải sản bất hợp pháp

Cảnh sát biển Việt Nam nói chung, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1 nói riêng đã chủ động phối hợp với các ngành...

Giữ vững an ninh, an toàn trên vùng biển Tây Nam
Giữ vững an ninh, an toàn trên vùng biển Tây Nam

Chúng tôi đến quân cảng Năm Căn khi cán bộ, chiến sĩ tàu CSB-4039, Hải đoàn 42, Vùng Cảnh sát biển (CSB) 4 đang gấp...

Sơn La: Đồng hành cùng nông dân trong mùa dịch
Sơn La: Đồng hành cùng nông dân trong mùa dịch

Với những cách làm phù hợp, kịp thời, cấp ủy, chính quyền các cấp tỉnh Sơn La đã thực sự đồng hành cùng nông dân...

Lào Cai sau 30 năm tái lập tỉnh: Nhiều đổi thay trong đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số
Lào Cai sau 30 năm tái lập tỉnh: Nhiều đổi thay trong đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số

Để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, năm 1991, tỉnh Lào Cai được tái lập trên cơ sở tách ra từ tỉnh Hoàng...

Thanh Hóa chú trọng bảo vệ môi trường sinh thái biển
Thanh Hóa chú trọng bảo vệ môi trường sinh thái biển

Trong 5 trụ cột phát triển kinh tế biển, ngành khai thác, chế biến hải sản được coi là mũi nhọn, được tỉnh Thanh Hóa...

Thông tin liên quan Biển Đông từ ngày 14 đến 20/9
Thông tin liên quan Biển Đông từ ngày 14 đến 20/9

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc điện đàm với Tổng thống Nga Vladimir Putin, trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế...

Khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo bền vững
Khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo bền vững

Bộ Tài nguyên và Môi trường đang lấy ý kiến góp ý của nhân dân với dự thảo Nghị quyết của Chính phủ phê duyệt...

Tăng cường kiểm soát, giảm đáng kể ô nhiễm, bảo vệ môi trường biển
Tăng cường kiểm soát, giảm đáng kể ô nhiễm, bảo vệ môi trường biển

Bảo vệ biển và hải đảo Việt Nam là một trong những ưu tiên hàng đầu trong toàn hệ thống chính trị, được cụ thể...

Những chiến sĩ “vượt nắng, thắng mưa” nơi tuyến đầu chống dịch ở Thừa Thiên Huế
Những chiến sĩ “vượt nắng, thắng mưa” nơi tuyến đầu chống dịch ở Thừa Thiên Huế

Những chiến sĩ thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự (CHQS) tỉnh Thừa Thiên Huế, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh đang ngày...

Nguyên Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn: Biên giới rất thiêng liêng, công tác biên giới không thể nóng vội
Nguyên Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn: Biên giới rất thiêng liêng, công tác biên giới không thể nóng vội

Gần 4 thập kỷ gắn bó với công tác biên giới, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn không chỉ có kinh nghiệm mà...

Tin đọc nhiều
Đầu tư xây dựng hạ tầng Cửa khẩu Cầu Treo đáp ứng yêu cầu phát triển tỉnh Hà Tĩnh
Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN – EU
Tăng cường hợp tác giao lưu giữa MTTQ Việt Nam và Chính hiệp Trung Quốc
Hoa Kỳ coi trọng quan hệ Đối tác toàn diện với Việt Nam
Ngư dân và vai trò bảo vệ chủ quyền biển, đảo
Để không có những “bãi rác ngầm dưới biển”
Tăng cường quản lý biên giới ứng phó với tội phạm xuyên quốc gia
Đảm bảo
Sơn La: Đồng hành cùng nông dân trong mùa dịch
Lào Cai sau 30 năm tái lập tỉnh: Nhiều đổi thay trong đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số
Bến Tre nỗ lực thực hiện các giải pháp chống khai thác thủy sản bất hợp pháp
Gỡ nút thắt quy hoạch, phát huy tiềm năng kinh tế khu vực biên giới
Vùng Cảnh sát biển 4 xây dựng thế trận lòng dân vùng biển đảo Tây Nam
“Thế trận lòng dân” quy tụ sức mạnh toàn dân tộc
Lạng Sơn ứng dụng hiệu quả phần mềm quản lý phương tiện xuất nhập khẩu
Chuyến công tác của Chủ tịch Quốc hội tới châu Âu thành công vượt dự kiến
Đối ngoại nhân dân đóng vai trò tích cực trong phát triển quan hệ Việt Nam - Ấn Độ
Quyết không để dịch COVID-19 vào Hà Tĩnh qua biên giới
Quảng Ninh nỗ lực kiểm soát Covid-19 và hiện thực hóa thành công 'mục tiêu kép'
Thông tin liên quan Biển Đông từ ngày 24-30/8/2021
Vấn đề biên giới lãnh thổ trong chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị
Phê duyệt cải tạo, nâng cấp luồng hàng hải vào cảng Quy Nhơn
Linh hoạt các biện pháp gỡ khó cho doanh nghiệp thuỷ sản
Bà Rịa - Vũng Tàu: Tàu hậu cần vươn khơi tiếp tế cho ngư dân đánh bắt xa bờ
Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Hợp tác Mê Công – Hàn Quốc lần thứ 11
Cách tiếp cận, sáng kiến của Việt Nam trong lĩnh vực an ninh hàng hải được đánh giá cao
Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN – Nga
Lưu ý doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa qua cửa khẩu Tân Thanh
“Lá chắn thép” ngăn chặn dịch Covid-19 trên vùng biển Tây Nam
Kiên Giang tập trung phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững